Kinh tế sinh học - 'mỏ vàng' chờ khơi thông

Kinh tế toàn cầu đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ khi các mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên hóa thạch hay lao động giá rẻ dần bộc lộ giới hạn. Trong bối cảnh đó, kinh tế sinh học nổi lên như một mỏ vàng mới, không chỉ kiến tạo phương thức sản xuất xanh, tuần hoàn mà còn mở ra dư địa tăng trưởng khổng lồ cho nền kinh tế.

Rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường là chìa khóa để kinh tế sinh học bứt phá

Rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường là chìa khóa để kinh tế sinh học bứt phá

Không gian tăng trưởng nghìn tỷ USD

Bức tranh về sức hấp dẫn của kinh tế sinh học vừa được các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp thảo luận sôi nổi tại Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” diễn mới đây tại Hà Nội. Sự kiện do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp với Cục Thông tin và Thống kê (NATIS - Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức.

Theo số liệu được chia sẻ, quy mô kinh tế sinh học toàn cầu hiện đã chạm mốc khoảng 5.000 tỷ USD và được dự báo sẽ tăng tốc ngoạn mục lên 30.000 tỷ USD vào năm 2050. Lĩnh vực này đang len lỏi và tái định hình hàng loạt ngành công nghiệp, từ y dược, nông nghiệp, chế biến thực phẩm đến công nghệ gen, sinh học tổng hợp và nhiều ngành dịch vụ khác.

TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI nhìn nhận, kinh tế sinh học với nền tảng là sự sáng tạo, phát triển và sử dụng tài nguyên sinh học tái tạo, chính là lời giải cho bài toán phát triển bền vững. Tại Việt Nam, dù chưa có thống kê chính thức về quy mô, nhưng với lợi thế nguồn gen bản địa phong phú, nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm dồi dào, dư địa để ngành này đóng góp vào tăng trưởng là rất lớn.

Tầm nhìn chiến lược này đã được khẳng định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 189/NQ-CP của Chính phủ. Theo PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), mục tiêu đặt ra rất rõ ràng: đến năm 2030, công nghệ sinh học sẽ đóng góp khoảng 7% GDP và tiến tới mốc 10 - 15% GDP vào năm 2045. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận, mức độ đóng góp trực tiếp của kinh tế sinh học vào GDP hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Các diễn giả thảo luận tại Hội thảo

Các diễn giả thảo luận tại Hội thảo

Vượt "thung lũng chết" trong thương mại hóa

Dư địa lớn, nhưng để biến các công trình nghiên cứu thành những sản phẩm có giá trị thương mại, đóng góp thực chất vào nền kinh tế lại là một hành trình gian nan. Ông Vũ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: Tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa trên thế giới hiện đạt khoảng 5%, trong khi tại Việt Nam con số này vẫn ở mức dưới 1%.

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường đang bị cản trở bởi ba điểm nghẽn cốt lõi. Theo PGS.TS. Phí Quyết Tiến, thứ nhất là sự thiếu hụt các cơ chế đặt hàng dài hạn khiến nghiên cứu bị phân mảnh. Thứ hai là sợi dây liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, nặng tính hình thức.

Và điểm nghẽn thứ ba, cũng là rào cản khốc liệt nhất, chính là "thung lũng chết" trong giai đoạn mở rộng quy mô sản xuất. Rất nhiều công nghệ có kết quả mỹ mãn trong lồng kính nhưng lại thất bại cay đắng khi bước ra sản xuất thương mại. Để sống sót qua thung lũng này, sản phẩm cần được chuẩn hóa quy trình, định giá và thương mại hóa thành các sản phẩm tài chính.

Thêm vào đó, hành lang pháp lý cho các công nghệ mới vẫn còn là điểm nghẽn. Điển hình như việc các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công giống lúa phục hồi alen RC cho hạt màu đỏ, nhưng việc thử nghiệm mô hình và tung ra thị trường vẫn đang phải chờ cơ chế. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, dữ liệu sinh học có khả năng được thương mại hóa thành tài sản tài chính, nhưng điều này đòi hỏi một cơ chế quản trị dữ liệu chặt chẽ, gắn với bảo hộ sở hữu trí tuệ và an ninh quốc gia.

Chia sẻ rủi ro, kiến tạo giá trị

Để công nghệ sinh học thực sự trở thành cỗ máy in tiền cho nền kinh tế, việc thay đổi phương thức hợp tác là mệnh lệnh sống còn. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ thương mại hóa sáng chế của Việt Nam phải đạt 8%.

Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Tân (Đại học Bách khoa Hà Nội), đã đến lúc ba chủ thể: Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp phải thay đổi vai trò. Nhà khoa học cần ngừng việc bán quy trình mà hãy trở thành người cung cấp giải pháp toàn diện. Doanh nghiệp cần xác định rõ bài toán kinh doanh để tìm kiếm đối tác thay vì chỉ đi mua máy móc. Đặc biệt, Nhà nước cần dịch chuyển từ việc "rót tiền" tài trợ đề tài sang cơ chế chia sẻ rủi ro ở giai đoạn chạy thử nghiệm, hỗ trợ nền tảng dùng chung để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.

Sự thiếu vắng một hệ sinh thái đồng bộ từng khiến doanh nghiệp Việt đánh rơi những cơ hội xuất khẩu bằng "vàng". TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Innogenex chia sẻ, trong đại dịch Covid-19, công ty sở hữu một trong 15 bộ kit xét nghiệm đầu tiên trên thế giới có kết quả lâm sàng. Dù đơn hàng ngoại đổ về tấp nập, doanh nghiệp đành bất lực vì thiếu năng lực vận chuyển xuyên biên giới, bảo quản và kiểm soát chất lượng. "Một mình doanh nghiệp là không đủ, phải cần cả hệ thống lớn vào cuộc mới lấy được những đơn hàng lớn", bà Hà nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch VASTI cho rằng, cần có những tổ chức trung gian đủ mạnh để "khớp lệnh" nhu cầu giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. Khi cơ chế đặt hàng trực tiếp từ thị trường được khơi thông như cách Viện Sinh học vừa ký kết chuyển giao công nghệ trực tiếp với Vinaseed, những kết quả nghiên cứu mới thực sự tạo ra dòng tiền. Chỉ khi đó, kinh tế sinh học mới khơi dậy được toàn bộ dư địa, thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của kỷ nguyên số.

Bình Minh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/kinh-te-sinh-hoc-mo-vang-cho-khoi-thong-189103.html