Kinh tế Trung Quốc đứng trước nguy cơ đi theo 'vết xe đổ' của Nhật Bản
Giảm phát dai dẳng, tiêu dùng yếu, bất động sản đi xuống và dân số suy giảm đang đưa kinh tế Trung Quốc tiến gần kịch bản trì trệ kéo dài của Nhật Bản sau năm 1990, khiến triển vọng vượt Mỹ ngày càng xa vời...

Ảnh minh họa - Ảnh: Getty Images
Theo tờ báo Financail Times, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang bộc lộ nhiều điểm tương đồng với Nhật Bản sau năm 1990 như dân số già hóa, giảm phát kéo dài, tiêu dùng yếu, cùng thị trường chứng khoán và bất động sản ảm đạm.
Tính toán của công ty nghiên cứu Capital Economics cho thấy tổng nợ công và nợ tư nhân của Trung Quốc hiện tương đương khoảng 300% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Mức này đã tiến gần Nhật Bản, nền kinh tế có tỷ lệ nợ khoảng 354% GDP, theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS).
Theo bộ chỉ số của ngân hàng Goldman Sachs đo lường các dấu hiệu trì trệ tương tự Nhật Bản, Trung Quốc liên tục có điểm số cao hơn chính Nhật Bản trong 5 năm qua.
Triển vọng dân số càng làm gia tăng sức ép. Dân số Nhật Bản bắt đầu giảm từ năm 2009, còn Trung Quốc bước vào xu hướng này từ năm 2022 và được dự báo sẽ giảm nhanh hơn. Diễn biến này làm dấy lên hoài nghi về khả năng Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong một đến hai thập kỷ tới. Nhật Bản từng được dự báo sẽ vượt Mỹ, nhưng điều đó đã không xảy ra.
DẤU HIỆU TRÌ TRỆ KIỂU NHẬT BẢN NGÀY CÀNG RÕ
Tại Trung Quốc, doanh nghiệp ngày càng dè dặt với đầu tư, ngoại trừ những ngành được nhà nước ưu tiên. Các hộ gia đình cũng giữ tiền thay vì chi tiêu. Để giữ chân thực khách, nhiều nhà hàng đua nhau bán suất ăn dưới 10 nhân dân tệ (khoảng 1,5 USD), gợi nhớ cuộc cạnh tranh giá tại Nhật Bản trong thời kỳ giảm phát.
Ông Toshiya Tsugami, chuyên gia nghiên cứu so sánh kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản tại Viện Các vấn đề Quốc tế Nhật Bản (JIIA), cho biết Tokyo từng bị chỉ trích vì hành động quá ít và quá muộn.
“Trung Quốc dường như đang làm mọi thứ có thể, nhưng mới chỉ xử lý triệu chứng. Trên thực tế, các vấn đề của nước này ngày càng lớn và nghiêm trọng hơn”, ông Tsugami nói với Financial Times.
Gần đây, giá năng lượng tăng do chiến tranh Mỹ - Iran đã giúp chỉ số giá sản xuất (PPI) của Trung Quốc, thước đo giá bán hàng hóa tại nhà máy, thoát khỏi hơn 3 năm giảm phát. Tuy nhiên, nhu cầu trong nước vẫn yếu. Người dân ưu tiên trả bớt nợ, khiến dư nợ cho vay hộ gia đình tại thời điểm cuối tháng 8 năm nay lần đầu tiên giảm trong lịch sử.
Nguyên nhân sâu xa là sự lao dốc của thị trường bất động sản, lĩnh vực từng đóng góp khoảng 1/3 quy mô nền kinh tế Trung Quốc. Theo tập đoàn tài chính Macquarie, kể từ khi bong bóng bất động sản Trung Quốc vỡ vào năm 2021, số nhà ở khởi công mới đã giảm 78% so với đỉnh, mạnh hơn mức giảm 65% của Nhật Bản trong giai đoạn 1996-2025.
Ông Richard Koo, nhà kinh tế trưởng của Viện Nghiên cứu Nomura, gọi hiện tượng này là “suy thoái bảng cân đối kế toán”, khi doanh nghiệp và người dân tập trung trả nợ thay vì vay thêm để đầu tư hoặc chi tiêu.
Theo ông Koo, khi doanh nghiệp và người dân cùng ưu tiên trả nợ, nhu cầu trong nền kinh tế suy yếu, kéo theo giảm phát. Giá cả và thu nhập đi xuống trong khi khoản nợ giữ nguyên, nên gánh nặng trả nợ thực tế càng lớn hơn. Vòng luẩn quẩn này khiến cơ hội đầu tư thu hẹp, thị trường lao động kém linh hoạt và tiền lương dậm chân tại chỗ.
Trong tháng 9, tổng dư nợ cho vay bằng nhân dân tệ của Trung Quốc chỉ tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025, mức tăng thấp kỷ lục. Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm cũng chỉ quanh 1,7%, khi nhà đầu tư dồn tiền vào trái phiếu do thiếu cơ hội đầu tư hấp dẫn trong nước.
"Mức lợi suất này là rất vô lý, lẽ ra phải đạt ít nhất 3-4%", ông Koo nhận xét.
Theo ông Koo, giải pháp hiệu quả nhất là chính phủ tăng chi tiêu tài khóa, đưa nguồn tiền tiết kiệm trong hệ thống ngân hàng vào nền kinh tế. Ông cho rằng Bắc Kinh cần tránh lặp lại sai lầm của Nhật Bản khi dựa vào việc hạ lãi suất. Nới lỏng chính sách tiền tệ chỉ giúp doanh nghiệp cầm cự mà không khắc phục những điểm yếu trong mô hình kinh doanh, khiến nguồn vốn tiếp tục được phân bổ kém hiệu quả.
Bắc Kinh đã triển khai một số chương trình kích cầu, như trợ giá mua tivi và đồ gia dụng. Tuy nhiên, các biện pháp này chủ yếu thúc đẩy hộ gia đình mua sắm sớm hơn dự định, thay vì giúp họ tăng thu nhập.
“Chính phủ đã hành động phần nào, nhưng vẫn còn xa mới đủ để bù đắp sức ép giảm phát”, ông Koo nhận định.
XUẤT KHẨU GIÚP BẮC KINH CÓ THÊM THỜI GIAN
Dù vậy, nhiều chuyên gia chỉ ra những khác biệt lớn giữa hai nền kinh tế. Ông Andrew Tilton, nhà kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Goldman Sachs, cho rằng Trung Quốc đã nỗ lực duy trì sức cạnh tranh và thị phần của ngành sản xuất.
Theo số liệu công bố tuần trước, GDP Trung Quốc quý 3/2026 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ xuất khẩu.
Bà Isabelle Mateos y Lago, nhà kinh tế trưởng của ngân hàng BNP Paribas, nhận định Trung Quốc vẫn có thể khôi phục sức sống cho nền kinh tế trong nước. Tuy nhiên, chính phủ cần giải quyết những nguyên nhân khiến tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình cao bất thường, gấp khoảng hai lần mức của Nhật Bản đầu thập niên 1980.
Theo một số nhà kinh tế, xuất khẩu tăng mạnh cũng khiến Bắc Kinh chưa muốn đẩy mạnh kích cầu trong nước. Năm 2025, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 1,2 nghìn tỷ USD, mức cao nhất từng được ghi nhận ở một quốc gia. Giới hoạch định chính sách tin rằng xuất khẩu có thể giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng trong lúc chờ thị trường bất động sản ổn định.
Trao đổi với Financial Times, một cố vấn của Chính phủ Trung Quốc cho biết giới lãnh đạo tin rằng các khoản đầu tư dài hạn vào công nghệ cao, như sản xuất chất bán dẫn, sẽ mang lại những thành quả mà Nhật Bản không đạt được.
“Trung Quốc khác. Chúng tôi không chờ bong bóng bất động sản tự vỡ, mà đã chủ động làm điều đó”, vị cố vấn nói.
Tỷ trọng của Nhật Bản trong giá trị sản xuất toàn cầu giảm từ 23% năm 1995 xuống 11% năm 2010. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn chiếm 28% vào năm 2024. Theo ông Larry Hu, nhà kinh tế trưởng phụ trách Trung Quốc của Macquarie, kể từ khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung bùng phát năm 2018, xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng khoảng 52%, còn thặng dư thương mại hàng hóa tăng hơn ba lần.
Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo đà tăng xuất khẩu hiện nay của Trung Quốc khó duy trì lâu dài khi Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) phản ứng mạnh hơn trước dòng chảy hàng giá rẻ từ nước này. Năm 1985, cũng trong bối cảnh xuất khẩu bùng nổ, Nhật Bản buộc phải để đồng yên tăng giá theo Hiệp định Plaza ký với Mỹ và một số nước.
Theo ông Tilton, khác với Nhật Bản khi đó, Trung Quốc không dễ nhượng bộ trước sức ép của Mỹ. Do cũng không chịu sức ép từ cử tri như Chính phủ Nhật Bản, Bắc Kinh có thể tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho sản xuất và xuất khẩu, thay vì hỗ trợ thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình, trong thời gian dài hơn so với Tokyo trước đây.
Trong khi đó, ông Hu cho rằng ngay cả khi xuất khẩu chững lại, Bắc Kinh vẫn còn nhiều dư địa chính sách nhờ lạm phát thấp, lãi suất thấp và đồng tiền đang ở mức định giá thấp. Một lựa chọn là tung ra gói kích thích mạnh cho thị trường nhà ở.
“THẾ HỆ MẤT MÁT” VÀ GÁNH NẶNG NỢ
Dù vậy, không phải ai cũng tin Bắc Kinh có thể dễ dàng chuyển hướng chính sách. Hai thế hệ người Nhật Bản từng gánh chịu hậu quả từ sự sụp đổ của bong bóng thập niên 1980. Tương tự, một thế hệ người trẻ Trung Quốc hiện đang chịu tác động nặng nề nhất từ đà suy giảm của kinh tế trong nước.
Theo ông Andrew Batson, nhà phân tích tại công ty nghiên cứu Gavekal, khoảng 74 triệu người Trung Quốc đã gia nhập lực lượng lao động kể từ năm 2022. Ông cho rằng kinh tế suy yếu kéo dài có thể khiến nhiều người trong “thế hệ mất mát” này vỡ mộng về tương lai. Khi đó, nỗ lực ổn định thị trường bất động sản sẽ càng gặp khó khăn.
Các nhà phân tích của Goldman Sachs cũng nhận định yếu tố tâm lý này còn quan trọng hơn cả sức ép nhân khẩu học. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy khi hộ gia đình và doanh nghiệp mất niềm tin vào triển vọng tăng trưởng dài hạn, họ sẽ cắt giảm tiêu dùng và đầu tư. Do đó, hoạt động kinh tế càng suy yếu, tiếp tục kéo kỳ vọng đi xuống.
Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế cho rằng dù thị trường bất động sản đã lao dốc, tình trạng tăng trưởng dựa vào đầu tư và vay nợ tại Trung Quốc vẫn chưa thực sự chấm dứt.
Năm 2024, tổng tích lũy tài sản cố định, tức tổng giá trị đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, hạ tầng và nhà ở, của Trung Quốc tương đương 40% GDP, so với mức 28% của Nhật Bản. Mức đầu tư cao này được duy trì nhờ chính phủ vay nợ nhiều hơn. Goldman Sachs dự báo thâm hụt ngân sách của Trung Quốc, nếu tính cả các khoản vay ngoài ngân sách của chính quyền địa phương, sẽ lên tới mức tương đương 11% GDP trong năm nay.
“Tôi cho rằng Trung Quốc chưa thực sự bắt đầu quá trình điều chỉnh, bởi nợ vẫn tăng với tốc độ đáng kinh ngạc”, ông Michael Pettis, nhà nghiên cứu cấp cao tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế (CEIP) nhận định.
Nếu những rủi ro trên kéo dài, triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể. Ông Adam Slater, nhà kinh tế chính tại công ty tư vấn Oxford Economics, không loại trừ khả năng tăng trưởng của nước này giảm còn 2-2,5% mỗi năm trong thập kỷ tới.
Mức này chỉ bằng một nửa mức trung bình của thập kỷ trước. Khi đó, kỳ vọng vượt Mỹ của Bắc Kinh sẽ càng khó thành hiện thực, tương tự triển vọng Nhật Bản vượt Mỹ đã dần phai nhạt trong thập niên 1990.
“Quá trình Trung Quốc thu hẹp khoảng cách với Mỹ khi đó sẽ gần như dừng lại”, ông Slater nhận định với Financial Times.



