Kỳ 2: Đổi mới và hội nhập - hiện thực hóa khát vọng ấm no, hạnh phúc của nhân dân

Giữa muôn vàn thử thách sau chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã từng bước vượt qua khủng hoảng, khơi dậy sức sản xuất, đổi mới chính trị, từng bước hội nhập và không ngừng chăm lo, cải thiện và nâng cao đời sống, hướng tới mục tiêu ấm no, hạnh phúc bền vững cho nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. (Ảnh: HNV)

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. (Ảnh: HNV)

Sau ngày đất nước thống nhất, nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng cuộc sống mới với khát vọng cháy bỏng về hòa bình, ấm no và phát triển. Đó là khát vọng rất tự nhiên của một dân tộc vừa đi qua chiến tranh, đã chịu quá nhiều hy sinh, mất mát và hơn ai hết hiểu rõ giá trị của độc lập, hòa bình, thống nhất.

Từ khủng hoảng đến bước ngoặt đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội

Ngược lại dòng lịch sử, hiện thực sau chiến tranh đặt ra vô vàn khó khăn, thử thách. Nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất nghèo nàn, sản xuất trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, đất nước lại chịu tác động nặng nề bởi âm mưu bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch và những hạn chế kéo dài của cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp.

Trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng. Sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, lưu thông hàng hóa ách tắc, lạm phát tăng cao, cơ chế bao cấp làm giảm động lực lao động, sáng tạo và tích lũy xã hội.

Những khó khăn đó cho thấy, nếu không đổi mới, đất nước không thể ổn định và phát triển; nếu không tháo gỡ những rào cản của cơ chế cũ, khát vọng ấm no, hạnh phúc của nhân dân khó có thể trở thành hiện thực. Đổi mới vì thế không phải là lựa chọn ngẫu nhiên, tự phát, càng không phải là sự dao động về mục tiêu lý tưởng, mà là đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó là sự tự đổi mới của Đảng để tiếp tục lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường phù hợp hơn, hiệu quả hơn, sát thực tiễn hơn.

Đại hội VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt lớn trong hành trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong nhận thức và tổ chức thực hiện. Đồng thời, Đảng đặt ra quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng. Đến Đại hội XIV, Đảng khẳng định một cách toàn diện hơn “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”.

Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. (Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam).

Ý nghĩa sâu xa của đổi mới là Đảng đã đặt đời sống nhân dân vào trung tâm của quá trình hoạch định đường lối phát triển. Nếu mục tiêu tối thượng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; thì việc phát triển lực lượng sản xuất, khơi dậy mọi nguồn lực, tạo ra của cải vật chất, nâng cao đời sống nhân dân chính là điều kiện tiên quyết. Vì vậy, Đảng từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước đột phá lớn, vừa thể hiện sự tôn trọng quy luật khách quan, vừa khẳng định bản lĩnh của Đảng trong lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với Việt Nam.

Việc xác lập mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những sáng tạo nổi bật của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Kinh tế thị trường được nhìn nhận như phương thức hữu hiệu để giải phóng sức sản xuất, huy động và phân bổ nguồn lực, thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao năng suất, tạo động lực phát triển. Nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho sự phát triển đó không rơi vào tự phát, không chạy theo lợi nhuận thuần túy, không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế phải gắn với chăm lo con người; phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống nhân dân; thành quả Đổi mới phải được phân bổ ngày càng công bằng hơn, để mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng.

Hạnh phúc con người là mục tiêu tối thượng và bản chất ưu việt của chế độ ta

Suốt tiến trình đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn rằng phát triển không thể chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà phải được đo bằng chất lượng cuộc sống, sự phát triển toàn diện của con người và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của Nhân dân. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu khoảng cách giàu nghèo gia tăng quá mức, nếu người yếu thế bị bỏ lại phía sau, nếu môi trường sống bị tổn hại, nếu văn hóa và đạo đức xã hội suy giảm, thì đó không phải là sự phát triển bền vững, vì hạnh phúc con người.

Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”.

Từ nhận thức đó, hạnh phúc của nhân dân không còn được hiểu một cách giản đơn là thoát khỏi đói nghèo, mà ngày càng được tiếp cận toàn diện hơn, với những yêu cầu cao hơn. Hạnh phúc là có đời sống vật chất ngày càng tốt hơn; có việc làm, thu nhập, nhà ở; được học hành, chăm sóc sức khỏe; được sống trong môi trường an toàn, ổn định; được bảo đảm quyền làm chủ; được tiếp cận công bằng với các cơ hội phát triển; được sống trong một xã hội nhân ái, văn minh, nghĩa tình. Hạnh phúc còn là niềm tin của nhân dân vào tương lai đất nước, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào khả năng vươn lên của dân tộc.

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Xuyên suốt hành trình 40 năm đổi mới, Đảng luôn nhất quán quan điểm: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đây là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về một chế độ thật sự vì dân, là sự phát triển mới trong tư duy của Đảng về mục tiêu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Hạnh phúc từ quan điểm đến thực tiễn sinh động

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khát vọng hạnh phúc của nhân dân được thể hiện ở những định hướng lý luận và được hiện thực hóa sinh động qua những thành tựu kinh tế - xã hội ngoạn mục, khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Theo thống kê, sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, quy mô kinh tế tăng gấp 114 lần, từ 4,5 tỷ USD năm 1986 lên 514 tỷ USD năm 2025. Từ một quốc gia thuộc nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, quy mô kinh tế đứng thứ 32 thế giới. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; thu nhập bình quân đầu người từ mức khoảng 125-200 USD/năm vào năm 1986, tăng lên khoảng 5.026 USD vào năm 2025 .

Nếu trước đây, nỗi lo thường trực của nhiều gia đình là cái ăn, cái mặc, thì ngày nay, phần lớn người dân đã có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sống, giáo dục con cái, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, môi trường sống, văn hóa tinh thần và cơ hội phát triển. Đó là sự chuyển biến rất căn bản, phản ánh ý nghĩa thực chất của đổi mới đối với hạnh phúc con người.

Sự phát triển này không chỉ nằm ở con số tăng trưởng kinh tế hay sự đột phá về hạ tầng chiến lược, mà còn kết tinh ở chất lượng phát triển con người. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã đạt 0,766 điểm, tăng 14 bậc trên bảng xếp hạng toàn cầu, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển cao. Đặc biệt, chỉ số Hạnh phúc năm 2025 của nước ta tăng 33 bậc so với năm 2021, đứng thứ 46/143 quốc gia . Cùng với đó, “tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025” ; “tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2022 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 tuổi, số năm sống khỏe khoảng 67 năm”. Bên cạnh việc chăm lo sinh kế, sức khỏe và an sinh xã hội, Đảng, Nhà nước còn đẩy mạnh thực hiện “Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội; thành lập Quỹ nhà ở quốc gia. Đến tháng 9/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước” .

Trên lĩnh vực đối ngoại, đổi mới đã mở ra không gian phát triển rộng lớn cho đất nước. Từ thế bị bao vây, cô lập, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia, tham gia các tổ chức khu vực và toàn cầu, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hội nhập không chỉ tạo điều kiện thu hút nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn góp phần nâng cao vị thế đất nước, củng cố môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển chính là những điều kiện quan trọng để nhân dân được sống yên bình, lao động sáng tạo và xây dựng tương lai.

Trao đổi cùng chúng tôi, Giáo sư, Tiến sĩ Lại Quốc Khánh, Phó Tổng Thư ký Hội đồng lý luận Trung ương nhấn mạnh, “trong các thành tựu đó, điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện của Đảng về nội hàm và vị trí của giá trị hạnh phúc của nhân dân và nỗ lực để hiện thực hóa giá trị đó một cách sinh động trong đời sống thường nhật. Đảng ta luôn trăn trở, không phải chỉ là phát triển đất nước như thế nào, mà quan trọng hơn, là ai được hưởng những thành quả phát triển đó: nhân dân và khi nhân dân thật sự là chủ thể hưởng dụng thành quả phát triển thì chính nhân dân sẽ là nguồn động lực mạnh mẽ nhất của phát triển”.

Sau 40 năm đổi mới, từ một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, Việt Nam từng bước vượt qua khủng hoảng, phát triển sản xuất, mở rộng hội nhập, nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định vị thế quốc gia.

Hạnh phúc của nhân dân không còn là điều xa xôi, mà được hiện thực hóa bằng sự thay đổi rõ nét trong từng mặt của đời sống: từ cơm ăn, áo mặc, việc làm, thu nhập, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, môi trường sống và cơ hội phát triển. Đó là minh chứng sống động cho bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, đồng thời là kết tinh của ý chí độc lập, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc.

Tiến sĩ Lê Thị Hằng (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Tiến sĩ Nguyễn Văn Phương (Trường Sĩ quan Lục quân 2, Bộ Quốc phòng)

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/ky-2-doi-moi-va-hoi-nhap-hien-thuc-hoa-khat-vong-am-no-hanh-phuc-cua-nhan-dan-post970473.html