Tô thắm tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới Việt Nam - Lào

Những năm qua, mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới Việt Nam - Lào đã trở thành điểm sáng trong công tác đối ngoại nhân dân. Thông qua đó, góp phần củng cố tình đoàn kết, hữu nghị, tạo nền tảng quan trọng để nhân dân hai bên biên giới cùng chung sức bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời hỗ trợ lẫn nhau phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, triển khai hiệu quả các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao.

Đại diện các đơn vị bảo vệ biên giới và chính quyền địa phương hai bên dự Hội nghị giao ban giữa các cặp bản kết nghĩa: Sa Trầm, Ra Poong, Ngược (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị) và A Xóc, Hồ, Tà Riệp (huyện Sa Muội, tỉnh Salavan, Lào). Ảnh: Văn Thánh

Đại diện các đơn vị bảo vệ biên giới và chính quyền địa phương hai bên dự Hội nghị giao ban giữa các cặp bản kết nghĩa: Sa Trầm, Ra Poong, Ngược (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị) và A Xóc, Hồ, Tà Riệp (huyện Sa Muội, tỉnh Salavan, Lào). Ảnh: Văn Thánh

Khẳng định ý chí chung sức bảo vệ biên giới

Tuyến biên giới Việt Nam - Lào trải dài qua nhiều địa phương của hai nước, với đặc điểm địa hình chủ yếu là rừng núi hiểm trở. Nhân dân sinh sống hai bên biên giới có mối quan hệ dân tộc, thân tộc gần gũi, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, phong tục, tập quán. Trước đây, khi nhận thức về biên giới quốc gia còn giản đơn, bà con hai bên thường qua lại thăm thân, trao đổi hàng hóa qua các đường mòn, lối mở tự phát. Nhưng chính những thói quen đó đã bị các đối tượng xấu, tội phạm xuyên quốc gia lợi dụng trà trộn hoạt động, đe dọa đến tình hình an ninh trật tự ở khu vực biên giới.

Trước yêu cầu bảo vệ và quản lý biên giới trong tình hình mới, Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã phối hợp cùng lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn Lào và chính quyền địa phương hai bên triển khai mô hình kết nghĩa cụm dân cư. Khởi đầu từ năm 2005 giữa tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) với hai tỉnh Savannakhet và Salavan (Lào), mô hình kết nghĩa "bản - bản" đã nhanh chóng phát huy hiệu quả thiết thực. Đến nay, tuyến biên giới Việt - Lào đã ghi nhận 108 cặp cụm dân cư kết nghĩa. Tại nhiều vùng biên giới thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thanh Hóa, Sơn La, Điện Biên..., mô hình này đã thực sự đi vào chiều sâu và trở thành điểm sáng trong quan hệ song phương.

Thành quả lớn nhất của mô hình này là thắt chặt tình đoàn kết, giúp người dân hai bên biên giới cùng chung tay giải quyết các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở. Bà con không chỉ hỗ trợ nhau về cây, con giống để phát triển kinh tế mà còn tỉnh táo trước các luận điệu kích động, chia rẽ của kẻ xấu. Trong đó, các già làng, trưởng bản và người có uy tín đã trở thành những “sứ giả hòa bình” tích cực vận động nhân dân chấp hành pháp luật, bài trừ tình trạng di cư tự do hay vượt biên trái phép. Đặc biệt, phong trào đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh của quần chúng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Người dân hai nước đã chủ động phối hợp với lực lượng chức năng tuần tra đường biên, cột mốc, đồng thời cung cấp nhiều nguồn tin giá trị giúp đấu tranh hiệu quả với tội phạm ma túy, mua bán người và khai thác lâm sản lậu.

Tại nhiều bản làng vùng sâu, vùng xa, khi lực lượng chức năng chưa kịp có mặt, chính người dân trong các cụm kết nghĩa đã hỗ trợ nhau xử lý các vụ cháy rừng, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, mô hình kết nghĩa càng cho thấy ý nghĩa thiết thực. Nhân dân hai bên đã cùng phối hợp tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, cung cấp thông tin về hoạt động xuất nhập cảnh trái phép. Nhiều người dân tự nguyện tham gia cùng lực lượng Biên phòng chốt chặn, tuần tra xuyên đêm nơi rừng núi hiểm trở để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan qua biên giới. Những hành động giản dị, đầy trách nhiệm ấy tiếp tục khẳng định sức mạnh của “thế trận lòng dân” nơi biên cương Tổ quốc.

Tổ công tác của Đồn Biên phòng Pa Thơm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên tuyên truyền pháp luật cho người dân bản Pa Thơm (xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên) và cụm bản Sốp Hùn (huyện Mường Mày, tỉnh Phông Sa Lỳ, Lào). Ảnh: Anh Dũng

Tổ công tác của Đồn Biên phòng Pa Thơm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên tuyên truyền pháp luật cho người dân bản Pa Thơm (xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên) và cụm bản Sốp Hùn (huyện Mường Mày, tỉnh Phông Sa Lỳ, Lào). Ảnh: Anh Dũng

Gắn kết bằng nghĩa tình và sự sẻ chia

Không dừng lại ở việc phối hợp bảo vệ biên giới, các cụm dân cư kết nghĩa còn trở thành điểm tựa để người dân hai bên cùng phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Tại nhiều địa phương, các đồn Biên phòng phối hợp với chính quyền địa phương kết nối, hỗ trợ các bản làng hai bên biên giới trao đổi kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, hướng dẫn kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Nhiều mô hình trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, phát triển kinh tế rừng từng bước mang lại hiệu quả rõ rệt.

Khi một bản gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn hay mất mùa, các bản kết nghĩa bên kia biên giới sẵn sàng chung tay giúp đỡ bằng ngày công lao động, lương thực, vật liệu dựng nhà. Sự hỗ trợ chân thành ấy không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn, mà còn làm sâu sắc thêm tình cảm anh em giữa nhân dân hai nước. Ở các bản làng vùng biên, nhiều gia đình Việt Nam và Lào đã trở nên thân thiết như ruột thịt. Những ngày lễ, Tết cổ truyền hay các sự kiện trọng đại của bản làng đều có sự hiện diện của bà con phía bên kia biên giới. Những ché rượu cần, điệu lăm vông, tiếng khèn, câu hát dân ca hòa quyện giữa núi rừng Trường Sơn đã trở thành biểu tượng sinh động cho tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào.

Thông qua mô hình kết nghĩa, nhiều hủ tục dần được xóa bỏ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên rõ rệt. Đồng bào hai bên tích cực đưa trẻ em đến trường, chăm lo phát triển đời sống văn hóa, giữ gìn vệ sinh môi trường, xây dựng nếp sống văn minh. Các đồn Biên phòng cũng thường xuyên cử cán bộ bám bản, bám dân, phối hợp cùng chính quyền địa phương và lực lượng chức năng nước bạn giúp nhân dân phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Điển hình như Đồn Biên phòng Hướng Lập (Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị), Đồn Biên phòng Thông Thụ (Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An), Đồn Biên phòng Pa Thơm (Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên)... Hình ảnh những cán bộ quân hàm xanh cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân đã trở thành nhịp cầu gắn kết tình quân dân và tình đoàn kết quốc tế thủy chung, son sắt.

Thực tế cho thấy, tại các địa phương làm tốt công tác kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới, tình hình an ninh trật tự ổn định hơn, đời sống nhân dân được cải thiện và ý thức bảo vệ biên giới cũng được nâng lên rõ rệt. Đây không chỉ là mô hình đối ngoại nhân dân hiệu quả, mà còn là nền tảng quan trọng xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Trong bối cảnh các loại tội phạm xuyên quốc gia, hoạt động di cư trái phép, buôn bán ma túy vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các mô hình kết nghĩa càng trở nên cần thiết. Cùng với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương và lực lượng chức năng hai nước, cần tiếp tục phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, hỗ trợ phát triển sinh kế và tuyên truyền pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới.

Viết Lam

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/to-tham-tinh-doan-ket-huu-nghi-giua-nhan-dan-hai-ben-bien-gioi-viet-nam-lao-post504634.html