Kỳ 3: Cởi trói thể chế - Khơi thông sức mạnh của khoa học cơ bản
Nhận diện đúng những 'điểm nghẽn' mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra những đột phá về thể chế để tháo gỡ các rào cản đang kìm hãm sự phát triển của khoa học cơ bản. Điều đó không chỉ dừng ở việc tăng thêm nguồn lực hay sửa đổi một vài quy định, mà đòi hỏi sự đổi mới căn bản trong tư duy quản trị khoa học: chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ kiểm soát quy trình sang kiến tạo môi trường nghiên cứu; từ đầu tư ngắn hạn sang chiến lược dài hạn; từ tư duy né tránh rủi ro sang khuyến khích đổi mới, chấp nhận thử thách để tạo ra những đột phá. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển khoa học cơ bản, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái khoa học hiện đại, nơi nhà khoa học được trao quyền tự chủ, được bảo vệ trước những rủi ro nghề nghiệp chính đáng và được đầu tư đủ dài để theo đuổi những công trình có giá trị cho nhiều thế hệ.
Không thể quản lý khoa học bằng tư duy hành chính
Nếu ở Kỳ 2, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra những “điểm nghẽn” về cơ chế, tài chính và thủ tục đang kìm hãm sự phát triển của khoa học cơ bản, thì theo các chuyên gia, gốc rễ của vấn đề nằm sâu hơn ở tư duy quản lý. Bởi nghiên cứu khoa học vốn là hoạt động sáng tạo đặc biệt, luôn gắn với những điều chưa biết, những giả thuyết chưa được kiểm chứng và những hướng đi không thể dự báo kết quả ngay từ đầu. Khi hoạt động ấy vẫn được quản lý bằng tư duy hành chính với những tiêu chí cứng nhắc về quy trình, tiến độ và hồ sơ, sức sáng tạo rất dễ bị bó hẹp ngay từ khi ý tưởng còn chưa kịp hình thành.
Bởi khoa học không tạo ra tri thức bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng tự do sáng tạo và thời gian tích lũy.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, quản lý hành chính và quản trị khoa học là hai phương thức hoàn toàn khác nhau. Trong quản lý hành chính, mục tiêu, tiến độ và tiêu chí đánh giá thường được xác định khá rõ ngay từ đầu nhằm bảo đảm công việc được triển khai đúng kế hoạch và đạt kết quả dự kiến. Cách tiếp cận này phù hợp với những hoạt động có quy trình ổn định, có thể dự báo và kiểm soát.
“Nhưng nghiên cứu khoa học là hành trình đi tìm những điều chưa có lời giải. Kết quả của nghiên cứu không phải lúc nào cũng có thể xác định trước. Nếu áp dụng một cách cứng nhắc tư duy quản lý hành chính vào khoa học, chúng ta sẽ vô tình đặt nặng quy trình, hồ sơ và thủ tục hơn giá trị sáng tạo của nghiên cứu. Khi đó, nhà khoa học phải dành nhiều thời gian cho công việc hành chính thay vì tập trung giải quyết những bài toán khoa học lớn”, GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, điều khoa học Việt Nam cần lúc này là chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị sáng tạo”.
Khác với cách quản lý truyền thống, quản trị sáng tạo đặt Nhà nước vào vai trò kiến tạo thay vì chỉ kiểm soát. Nhà nước tập trung hoạch định chiến lược phát triển, đầu tư nguồn lực, xây dựng cơ chế minh bạch, trao quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu và các nhà khoa học, đồng thời tạo môi trường để những ý tưởng mới có cơ hội được thử nghiệm và phát triển.
Nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển đều đã chuyển từ tư duy “quản lý nhà khoa học” sang “kiến tạo môi trường nghiên cứu”. Nhà nước không làm thay công việc của các phòng thí nghiệm, mà tạo cơ chế để các phòng thí nghiệm phát huy tối đa năng lực sáng tạo. Đó cũng là hướng đi mà khoa học Việt Nam cần lựa chọn nếu muốn tạo ra những đột phá thực sự.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc thay đổi cách đánh giá hoạt động nghiên cứu. Thay vì quá chú trọng vào tiến độ, thủ tục hay số lượng sản phẩm trung gian, khoa học cần được đánh giá bằng chất lượng tri thức tạo ra, tính mới của kết quả nghiên cứu, khả năng hình thành công nghệ lõi cũng như những tác động lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.
GS.TS Chu Hoàng Hà cho biết, nhiều thành tựu khoa học lớn của thế giới đều không tạo ra sản phẩm ngay lập tức. Đặc biệt đối với khoa học cơ bản, có những công trình phải sau nhiều năm, thậm chí hàng chục năm, giá trị mới được khẳng định và trở thành nền tảng cho những công nghệ làm thay đổi thế giới. Nếu chỉ nhìn vào hiệu quả trước mắt hoặc đánh giá bằng tư duy nhiệm kỳ, rất nhiều hướng nghiên cứu quan trọng có thể bị bỏ lỡ ngay từ khi mới bắt đầu.
Từ thực tiễn đó, GS.TS Chu Hoàng Hà cho rằng quản trị khoa học hiện đại cũng cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tiền kiểm vẫn cần thiết để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn lực, nhưng không nên trở thành rào cản khiến các nhà khoa học e ngại theo đuổi những ý tưởng mới. Thay vào đó, việc đánh giá cần dựa trên chất lượng khoa học, tính mới của kết quả nghiên cứu, khả năng ứng dụng và những tác động lâu dài đối với xã hội.
Đó cũng chính là sự thay đổi về tư duy mà nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển đã thực hiện từ nhiều năm trước. Khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thay vì can thiệp quá sâu vào quá trình nghiên cứu, còn nhà khoa học được trao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình, sức sáng tạo sẽ có điều kiện được giải phóng. Với Việt Nam, nếu muốn xây dựng một nền khoa học đủ sức tạo ra những công nghệ chiến lược và tri thức mang dấu ấn quốc gia, thì “cởi trói” trước hết phải bắt đầu từ việc đổi mới tư duy quản trị khoa học.
Muốn có đột phá phải chấp nhận rủi ro khoa học
Đổi mới tư duy quản trị không chỉ là thay đổi quy trình hay cơ chế đánh giá, mà quan trọng hơn là tạo ra một môi trường đủ an toàn để các nhà khoa học dám theo đuổi những ý tưởng mới. Bởi trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản, những công trình có giá trị lớn nhất thường cũng là những công trình chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, không ít nhà khoa học lựa chọn các đề tài “an toàn”, dễ triển khai, dễ nghiệm thu và dễ công bố. Trong khi đó, những hướng nghiên cứu mới, có khả năng tạo ra công nghệ lõi hoặc mở ra tri thức mới lại thường đòi hỏi thời gian dài, nguồn lực lớn và luôn tiềm ẩn nguy cơ không đạt kết quả như kỳ vọng. Đó cũng là lý do không ít đề tài kết thúc đúng tiến độ nhưng lại không tạo ra những phát hiện đủ sức thay đổi một lĩnh vực khoa học.
Theo các chuyên gia, nếu môi trường nghiên cứu chỉ chấp nhận thành công mà không chấp nhận rủi ro thì rất khó tạo ra những phát minh mang tính đột phá. Khoa học sẽ chỉ quanh quẩn với những kết quả nhỏ, thiếu sức dẫn dắt và khó tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia.

GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về yêu cầu đổi mới tư duy quản trị, tạo môi trường để khoa học và đổi mới sáng tạo phát triển.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, tâm lý “sợ sai, sợ chịu trách nhiệm” hiện nay là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển của khoa học và đổi mới sáng tạo.
“Trong nghiên cứu khoa học, thất bại không phải là sự cố mà là một phần tất yếu của quá trình khám phá cái mới. Nếu môi trường nghiên cứu chỉ đặt nặng việc không được sai, nhà khoa học sẽ có xu hướng lựa chọn những đề tài an toàn, dễ công bố, dễ nghiệm thu, thay vì dấn thân vào những câu hỏi lớn và có khả năng tạo ra đột phá.”
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa thất bại khoa học và sai phạm trong thực hiện nghiên cứu.
Một giả thuyết không được chứng minh, một thí nghiệm không mang lại kết quả như mong muốn hay một hướng nghiên cứu chưa đạt mục tiêu ban đầu đều có thể là kết quả tự nhiên của quá trình khám phá khoa học. Nếu được thực hiện đúng phương pháp, tuân thủ liêm chính khoa học và công bố trung thực, những kết quả đó vẫn tạo ra dữ liệu, kinh nghiệm và tri thức mới cho cộng đồng khoa học.
Ngược lại, các hành vi gian lận khoa học, làm sai lệch kết quả nghiên cứu, sử dụng kinh phí không đúng mục đích hoặc thiếu trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải được xử lý nghiêm minh. Hai khái niệm này không thể bị đánh đồng.
Chính vì vậy, một nền khoa học hiện đại không đánh giá nhà khoa học bằng việc họ có bao giờ thất bại hay không, mà đánh giá bằng cách họ đã trung thực đến đâu, tạo ra bao nhiêu tri thức mới và đóng góp được gì cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, muốn khuyến khích đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần xây dựng một cơ chế quản trị đủ linh hoạt để các nhà khoa học được thử nghiệm những ý tưởng mới trong khuôn khổ minh bạch, có trách nhiệm giải trình và được đánh giá bởi các hội đồng chuyên gia độc lập. Khi đó, rủi ro khoa học sẽ được nhìn nhận đúng như bản chất của nó - một phần không thể thiếu của quá trình tạo ra tri thức mới.
Nhìn ra thế giới, hầu hết những phát minh làm thay đổi lịch sử khoa học đều trải qua vô số lần thử nghiệm không thành công trước khi đạt được kết quả cuối cùng. Chính vì vậy, nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển không đặt mục tiêu loại bỏ hoàn toàn rủi ro, mà xây dựng cơ chế để quản trị rủi ro, bảo đảm nguồn lực được sử dụng minh bạch nhưng vẫn tạo không gian đủ rộng cho sáng tạo.
“Đột phá khoa học không đến từ sự sợ hãi, mà đến từ môi trường khuyến khích sự tò mò, tinh thần dấn thân thử nghiệm và khả năng học hỏi từ thất bại. Sợ sai có thể giúp tránh một số thất bại nhỏ, nhưng nếu trở thành tâm lý chi phối, nó có thể khiến chúng ta bỏ lỡ những cơ hội tạo ra những bước tiến lớn về khoa học và công nghệ.” - GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.
Thông điệp ấy cũng chính là lời giải cho bài toán phát triển khoa học Việt Nam trong giai đoạn mới. Một nền khoa học muốn tạo ra công nghệ chiến lược không thể chỉ khuyến khích những nghiên cứu chắc chắn thành công. Điều cần thiết hơn là xây dựng một môi trường mà ở đó, các nhà khoa học được trao quyền để theo đuổi những ý tưởng táo bạo, được chấp nhận thất bại trong khuôn khổ liêm chính và trách nhiệm, bởi chỉ từ những hành trình dám bước vào vùng chưa biết mới có thể mở ra những đột phá đủ sức làm thay đổi tương lai.
Trao quyền cho những “đầu tàu” khoa học để dẫn dắt tương lai
Mọi cải cách về tư duy quản trị sẽ khó tạo ra chuyển biến nếu không được hiện thực hóa bằng những cơ chế đủ mạnh đối với các tổ chức nghiên cứu chiến lược. Bởi những đột phá khoa học chưa bao giờ được tạo ra từ sự đầu tư dàn trải, mà luôn bắt đầu từ những “đầu tàu” đủ mạnh để dẫn dắt cả hệ sinh thái nghiên cứu.
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, việc Viện chính thức trở thành đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ ngày 1/4/2026 không chỉ là sự thay đổi về mô hình tổ chức, mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển đất nước.
GS.TS Chu Hoàng Hà cho biết, vị thế mới cũng đồng nghĩa với yêu cầu phải có những cơ chế đặc thù tương xứng để Viện thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc gia, có khả năng dẫn dắt phát triển tri thức, làm chủ công nghệ nền tảng và tạo ra những lĩnh vực khoa học có sức cạnh tranh quốc tế.
Điều quan trọng nhất, theo GS.TS Chu Hoàng Hà, là phải thay đổi cách đầu tư cho khoa học.

Phòng thí nghiệm là không gian để các nhà khoa học theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, tạo nền tảng cho các đột phá khoa học và công nghệ.
Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học hay vật liệu mới đều có chu kỳ nghiên cứu kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Nếu vẫn áp dụng cơ chế đầu tư ngắn hạn, chia nhỏ nguồn lực hoặc chỉ đánh giá bằng số lượng công bố khoa học hằng năm thì rất khó hình thành những công nghệ lõi mang dấu ấn Việt Nam.
“Điều chúng ta cần là các chương trình đầu tư dài hạn, ổn định, tập trung cho những lĩnh vực chiến lược; được đánh giá theo các mốc phát triển khoa học, năng lực làm chủ công nghệ và tác động lâu dài, thay vì chỉ nhìn vào kết quả trước mắt.”
Để minh chứng cho giá trị của đầu tư dài hạn, GS.TS Chu Hoàng Hà dẫn lại câu chuyện của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Sinh học. Từ những nghiên cứu nền tảng về cơ chế kháng virus bằng công nghệ RNAi, các nhà khoa học đã kiên trì theo đuổi gần hai thập kỷ, tiếp tục phát triển bằng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 và đến năm 2022 tạo ra các dòng đu đủ có khả năng kháng virus đốm vòng với hiệu quả cao mà vẫn bảo đảm năng suất. Đó cũng là minh chứng rõ nhất rằng khoa học cơ bản không thể đo bằng chu kỳ ngân sách một năm, mà phải được nhìn bằng tầm nhìn của nhiều thế hệ.
Theo Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà, nếu những nghiên cứu như vậy chỉ được nhìn bằng chu kỳ đầu tư ngắn hạn hoặc đánh giá theo từng năm ngân sách thì rất khó có cơ hội đi đến thành công.
Không chỉ cần nguồn lực dài hạn, các tổ chức nghiên cứu chiến lược cũng cần được trao quyền tự chủ cao hơn về tổ chức, nhân lực, tài chính và hoạt động khoa học. Quyền tự chủ ấy phải đi cùng với cơ chế đánh giá minh bạch, trách nhiệm giải trình rõ ràng và sự cạnh tranh học thuật lành mạnh để hình thành các trường phái nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế và đội ngũ các nhà khoa học có khả năng dẫn dắt những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Đặc biệt, theo GS.TS Chu Hoàng Hà, chính sách nhân lực cũng cần có bước đột phá. Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học Việt Nam không thể phát triển nếu vẫn sử dụng những cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và sử dụng nhân tài theo tư duy cũ. Điều cần hướng tới là xây dựng môi trường học thuật đủ sức thu hút các nhà khoa học xuất sắc trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ nghiên cứu trẻ sớm trưởng thành, làm chủ các hướng nghiên cứu mới và từng bước hình thành những trường phái khoa học mang dấu ấn Việt Nam.
Nhìn rộng hơn, những đề xuất của các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu và trường đại học trong suốt loạt bài đều gặp nhau ở một điểm: đầu tư cho khoa học cơ bản không thể được nhìn như một khoản chi thường xuyên, mà phải được xem là khoản đầu tư chiến lược cho tương lai quốc gia.
Nhìn lại toàn bộ chặng đường phát triển của các cường quốc khoa học, có thể thấy chưa một quốc gia nào vươn lên bằng cách quản lý khoa học như quản lý hành chính hay chỉ đầu tư theo từng nhiệm kỳ. Họ thành công bởi dám trao quyền cho những nhà khoa học xuất sắc, kiên trì đầu tư cho các hướng nghiên cứu nền tảng và chấp nhận rủi ro để đổi lấy những bước tiến lớn của tri thức.
Với Việt Nam, cải cách thể chế cho khoa học vì thế không chỉ là tháo gỡ khó khăn cho các viện nghiên cứu hay trường đại học. Đó là bước chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo; từ đầu tư cho từng đề tài sang đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia; từ giải quyết những bài toán của hôm nay sang chuẩn bị cho vị thế của đất nước nhiều thập kỷ sau.
Khi khoa học cơ bản được “cởi trói”, điều được giải phóng không chỉ là sức sáng tạo của từng nhà khoa học, mà còn là động lực phát triển của cả dân tộc. Bởi trong kỷ nguyên cạnh tranh bằng tri thức, quốc gia nào tạo ra nhiều tri thức hơn sẽ là quốc gia nắm giữ tương lai. Đó cũng chính là con đường để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
(Còn nữa)






![[GALLERY] Sinh viên Việt chế Galaxy Z Fold mini độc nhất gây sốt](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_01_180_55522675/8690cd04934f7a11235e.jpg)




