Kỳ 3: Đừng để 'màn hình' nuôi lớn những thói quen xấu

Màn hình của chiếc điện thoại không chỉ phản chiếu đời sống, mà đang ngày càng tham gia vào quá trình hình thành thói quen, suy nghĩ và cách ứng xử của trẻ. Ban đầu từ vài phút giải trí, một trò chơi hay một đoạn video vì tò mò, nhưng cũng có thể xuất hiện nội dung bạo lực, lệch chuẩn, cổ súy lối sống tiêu cực có thể được lặp lại đến mức trở thành điều quen thuộc. Khi ranh giới giữa không gian mạng và đời thực ngày càng mờ đi, tệ nạn, bạo lực học đường và những nguy cơ mới có thể tác động qua lại, kéo trẻ vào những hành vi khó lường. Bài toán đặt ra không phải là tách trẻ khỏi màn hình, mà là dựng một “lá chắn” đủ mạnh từ gia đình, nhà trường, xã hội, nền tảng số và pháp luật, đồng thời trang bị cho các em năng lực nhận diện, lựa chọn và tự bảo vệ mình.

Từ vài phút giải trí đến những thói quen khó bỏ

Một em học sinh có thể cầm điện thoại để xem vài video trước khi đi ngủ, chơi một trò chơi để giải trí hoặc lướt mạng vì tò mò. Vấn đề không nằm ở một lần sử dụng, mà ở việc hành vi ấy được lặp lại như thế nào và những gì các em tiếp nhận trong quá trình đó.

Khi thời gian trên màn hình ngày càng kéo dài, việc học, vận động, giao tiếp trực tiếp và nghỉ ngơi có thể bị thu hẹp. Đáng lưu ý hơn, những nội dung xuất hiện liên tục có thể tác động đến sở thích, cách nhìn nhận và hành vi của các em học sinh.

Không phải mọi nội dung trên mạng đều có hại và công nghệ cũng không phải nguyên nhân của mọi vấn đề. Điều cần quan tâm là trẻ sử dụng thiết bị ra sao, trong bao lâu, tiếp cận nội dung gì và có đủ khả năng tự kiểm soát hay không.

Ở lứa tuổi đang hình thành nhân cách, nhu cầu được chú ý, được công nhận và được hòa nhập với bạn bè cũng khiến trẻ dễ bị cuốn theo những nội dung đang được nhiều người quan tâm. Một nhân vật nổi tiếng trên mạng, một thử thách được chia sẻ rộng rãi hay một cách ứng xử tưởng như “hài hước” có thể nhanh chóng trở thành thứ trẻ muốn bắt chước.

Từ góc nhìn của học sinh, việc sử dụng điện thoại cũng đặt ra câu chuyện về khả năng tự kiểm soát. Em Nguyễn Dương Hoàng My, học sinh lớp 9A8 và Nguyễn Bá Minh Tiến, học sinh lớp 7A16 - Trường THCS Lê Quý Đôn nhận thức, điện thoại có thể phục vụ học tập, giải trí và kết nối với bạn bè, nhưng nếu không biết kiểm soát thời gian, học sinh rất dễ bị cuốn vào trò chơi, video hoặc mạng xã hội. Theo các em, điều quan trọng là phải biết tự đặt giới hạn cho mình, ưu tiên việc học và những hoạt động cần thiết trước khi sử dụng điện thoại để giải trí.

Em Nguyễn Dương Hoàng My và em Nguyễn Bá Minh Tiến chia sẻ về việc sử dụng điện thoại, tự kiểm soát thời gian và lựa chọn nội dung phù hợp với lứa tuổi.

Em Nguyễn Dương Hoàng My và em Nguyễn Bá Minh Tiến chia sẻ về việc sử dụng điện thoại, tự kiểm soát thời gian và lựa chọn nội dung phù hợp với lứa tuổi.

Một số phụ huynh cho biết, chúng tôi thấy điện thoại bây giờ rất khó tách khỏi việc học và sinh hoạt của các con. Các cháu có thể dùng điện thoại để tìm tài liệu, trao đổi bài với bạn, nhưng chỉ cần không kiểm soát tốt là rất dễ chuyển sang xem video, chơi game hoặc lướt mạng xã hội. Có những hôm con chỉ nói xem một lúc nhưng rồi thời gian kéo dài hơn dự định.

“Điều chúng tôi lo không chỉ là con dùng điện thoại nhiều, mà là những nội dung con tiếp cận mỗi ngày phía trong màn hình. Có những thứ người lớn thấy không phù hợp nhưng trẻ lại tò mò, rồi xem đi xem lại thành quen. Vì vậy, cha mẹ không thể chỉ nói cấm dùng điện thoại mà phải biết con đang xem gì, hướng dẫn con cách lựa chọn và thống nhất thời gian sử dụng", một số phụ huynh học sinh chia sẻ.

Từ những chia sẻ rất đời thường ấy, có thể thấy việc kiểm soát hành vi không bắt đầu bằng những quy định phức tạp. Đó có thể là khả năng tự dừng lại khi đã đến thời gian phải học, biết đặt điện thoại xuống khi cần nghỉ ngơi và nhận ra một nội dung không phù hợp để không tiếp tục xem hoặc chia sẻ.

Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Bình - Hiệu trưởng Trường THPT Trần Hưng Đạo Hà Đông cho rằng, vấn đề không nên được nhìn theo hướng cấm học sinh sử dụng điện thoại hay mạng xã hội, mà quan trọng là quản lý việc sử dụng và trang bị cho học sinh khả năng lựa chọn thông tin.

Theo cô Nguyễn Thị Thanh Bình, cần giới hạn thời gian sử dụng thiết bị phù hợp, đồng thời tăng cường giáo dục, chia sẻ kinh nghiệm để học sinh biết lựa chọn nội dung. Các cơ quan quản lý cũng cần có giải pháp ngăn chặn, hạn chế nội dung độc hại tiếp cận trẻ em. Quan trọng hơn, mối liên hệ giữa học sinh, gia đình và nhà trường phải được duy trì thường xuyên.

Nhà giáo Nguyễn Thị Thanh Bình - Hiệu trưởng Trường THPT Trần Hưng Đạo Hà Đông chia sẻ về việc giúp học sinh sử dụng thiết bị số có kiểm soát và biết lựa chọn nội dung phù hợp.

Nhà giáo Nguyễn Thị Thanh Bình - Hiệu trưởng Trường THPT Trần Hưng Đạo Hà Đông chia sẻ về việc giúp học sinh sử dụng thiết bị số có kiểm soát và biết lựa chọn nội dung phù hợp.

Bởi ngay cả người lớn cũng không dễ dàng kiểm soát thời gian sử dụng điện thoại. Nếu người lớn còn khó tự điều chỉnh, việc kỳ vọng trẻ tự kiểm soát hoàn toàn mà không có hướng dẫn là không thực tế.

“Vấn đề ở đâu thì cần phải giải quyết từ đó” cũng có nghĩa, nếu nguy cơ bắt nguồn từ cách sử dụng, nội dung và môi trường số, thì giải pháp phải đồng thời tác động vào cả ba yếu tố.

Điều đáng lo không phải một lần trẻ xem điện thoại quá lâu, mà là khi việc cầm điện thoại trở thành phản xạ, khi những gì xuất hiện trên màn hình bắt đầu tham gia vào quá trình hình thành thói quen, sở thích và cách nhìn của một đứa trẻ.

Màn hình có thể bắt đầu từ một phút giải trí, nhưng những gì được lặp lại trên đó có thể trở thành cách trẻ nhìn nhận, lựa chọn và hành xử ngoài đời. Khi ấy, câu chuyện không còn là thời gian sử dụng điện thoại, mà là những nguy cơ đang đi qua màn hình để bước vào đời sống.

Khi tệ nạn từ đời thực bước lên màn hình

Tệ nạn xã hội, bạo lực học đường và những hành vi lệch chuẩn trước đây thường được nhìn nhận như những vấn đề xảy ra trong đời sống thực. Nhưng môi trường số đang làm thay đổi cách chúng xuất hiện, lan truyền và tác động đến trẻ em.

Một vụ đánh nhau có thể được quay lại và đăng lên mạng để câu tương tác. Một hành vi bạo lực học đường có thể trở thành nội dung được chia sẻ. Những hình ảnh cổ súy lối sống lệch chuẩn có thể được biến thành video giải trí. Thậm chí, những câu chuyện liên quan đến ma túy, cờ bạc hoặc các hành vi vi phạm pháp luật có thể xuất hiện dưới hình thức khoe mẽ, kích thích tò mò.

Ở chiều ngược lại, những gì trẻ liên tục nhìn thấy trên mạng cũng có thể tác động trở lại đời sống. Việc thường xuyên tiếp xúc với nội dung bạo lực có thể khiến hành vi bạo lực trở nên quen thuộc hơn trong nhận thức; các cộng đồng độc hại có thể tạo tâm lý a dua; bắt nạt trên mạng có thể kéo theo xung đột ngoài đời.

Vì vậy, tệ nạn không còn chỉ tồn tại ở ngoài xã hội. Một phần của nó đang được số hóa, trong khi những tác động từ không gian mạng lại có thể quay trở lại đời thực.

Từ thực tiễn phòng ngừa tại cơ sở, UBND phường Hà Đông cho rằng công tác bảo vệ trẻ cần được thực hiện từ sớm, thông qua phối hợp giữa công an, nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương. Không chỉ tuyên truyền về ma túy, bạo lực hay các tệ nạn, lực lượng chức năng cần giúp học sinh nhận diện nguy cơ, biết cách xử lý và chủ động thông tin khi phát hiện những dấu hiệu bất thường.

Việc đưa những tình huống thực tế vào giáo dục cũng giúp cảnh báo gần với đời sống của học sinh hơn. Một lời rủ rê, một nhóm bạn mới quen, một tài khoản lạ trên mạng hay một nội dung tưởng như vô hại đều có thể là điểm khởi đầu của rủi ro nếu trẻ thiếu kỹ năng nhận diện.

Từ nhận diện nguy cơ đến phòng ngừa trong thực tế, Trường THPT Trần Hưng Đạo Hà Đông đã phối hợp với UBND phường Phú Lương và Công an phường tổ chức tuyên truyền, giáo dục học sinh về những nguy cơ có thể xuất hiện từ không gian mạng và tác động trở lại đời sống. Thay vì chỉ đưa ra những lời cảnh báo chung, các buổi tuyên truyền được gắn với những tình huống cụ thể, từ nội dung độc hại, lời rủ rê trên mạng đến nguy cơ liên quan ma túy, bạo lực và các tệ nạn xã hội, giúp học sinh nhận diện dấu hiệu nguy hiểm, biết cách từ chối và chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết.

Cách làm này cho thấy phòng ngừa không thể chờ đến khi sự việc xảy ra. Khi những nguy cơ ngày càng có thể bắt đầu từ một màn hình rồi chuyển thành hành vi ngoài đời, giáo dục nhận diện và kỹ năng tự bảo vệ cần được đặt lên trước một bước.

Nếu nhà trường và lực lượng chức năng nhìn thấy nguy cơ từ những tình huống cụ thể, thì dưới góc độ tâm lý học, điều đáng lưu ý nằm ở quá trình những nội dung ấy tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ. Ở lứa tuổi đang hình thành nhân cách, việc một nội dung được xem đi xem lại, được cộng đồng mạng cổ súy hoặc gắn với sự nổi tiếng có thể khiến trẻ dần coi đó là điều bình thường, từ đó làm thay đổi cách nhìn nhận và cách ứng xử.

Một số chuyên gia tâm lý học phân tích rằng, trẻ em không phải lúc nào cũng đủ khả năng nhận diện và đánh giá mức độ nguy hiểm của những gì mình tiếp cận trên mạng. Sự tò mò, nhu cầu được công nhận, tâm lý muốn hòa nhập với bạn bè và khả năng kiểm soát hành vi chưa hoàn thiện có thể khiến các em dễ bị cuốn theo những nội dung được lặp lại thường xuyên.

Vì vậy, khi phát hiện trẻ có những thay đổi bất thường về thời gian sử dụng điện thoại, kết quả học tập, giấc ngủ, giao tiếp hoặc cách ứng xử, người lớn cần quan tâm và trò chuyện để tìm nguyên nhân thay vì chỉ lập tức cấm đoán. Can thiệp sớm phải hướng tới giúp trẻ hiểu điều gì đang tác động đến mình, biết cách thoát khỏi nội dung hoặc môi trường không phù hợp và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần.

Nếu tâm lý học giúp lý giải vì sao trẻ có thể bị tác động, thì pháp luật đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của những chủ thể tạo ra, phân phối và kiểm soát nội dung đó.

Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn - Trưởng Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân cho rằng, pháp luật hiện nay không chỉ quan tâm đến những nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật như nội dung khiêu dâm, bạo lực, cờ bạc, ma túy, xâm hại trẻ em, mà còn phải lưu ý những nội dung không phù hợp với độ tuổi, có khả năng tác động tiêu cực đến tâm lý, nhận thức và hành vi của trẻ.

Theo Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn, cách tiếp cận cần chuyển mạnh sang phòng ngừa từ sớm thông qua phân loại nội dung, cảnh báo độ tuổi, hạn chế tiếp cận và ngăn chặn việc lan truyền nội dung không phù hợp. Với trẻ em, câu hỏi không chỉ là nội dung đó “có vi phạm pháp luật hay không”, mà còn phải xem xét nội dung ấy có gây ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ ở độ tuổi cụ thể hay không.

Đây là một thay đổi quan trọng trong tư duy bảo vệ trẻ trên môi trường số. Bởi nếu chỉ chờ đến khi nội dung đủ dấu hiệu vi phạm pháp luật mới xử lý, một lượng lớn tác động tiêu cực có thể đã được trẻ tiếp nhận và lặp lại.

Khi một nội dung có thể đi từ màn hình vào nhận thức, từ nhận thức thành hành vi và từ hành vi trở lại đời sống, phòng ngừa không thể chỉ bắt đầu sau khi hậu quả xảy ra.

Công an phường Ô Chợ Dừa thường xuyên phối hợp với nhà trường tuyên truyền, giúp học sinh nhận diện sớm nguy cơ bị lôi kéo, biết cách từ chối và chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp tình huống bất thường.

Công an phường Ô Chợ Dừa thường xuyên phối hợp với nhà trường tuyên truyền, giúp học sinh nhận diện sớm nguy cơ bị lôi kéo, biết cách từ chối và chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp tình huống bất thường.

Từ thực tiễn cơ sở, Đại úy Nguyễn Duy Tuấn Minh - Trưởng Công an phường Ô Chợ Dừa (Hà Nội) cho biết: Lực lượng Công an chú trọng phối hợp với nhà trường, gia đình để nhận diện sớm nguy cơ, đưa những tình huống thực tế vào tuyên truyền, giúp học sinh biết cách nói ra, tìm kiếm sự hỗ trợ khi bị lôi kéo, đe dọa hoặc ép buộc, qua đó ngăn nguy cơ ban đầu phát triển thành hành vi vi phạm pháp luật.

Dựng “lá chắn” từ gia đình đến chính sách

Không thể ngăn trẻ bước vào thế giới số. Nhưng có thể chuẩn bị cho trẻ một hành trang đủ vững để bước vào thế giới ấy.

Gia đình là lớp bảo vệ đầu tiên. Cha mẹ cần làm gương trong sử dụng thiết bị, thống nhất thời gian sử dụng phù hợp, biết trẻ đang tiếp cận nội dung gì và quan trọng nhất là duy trì đối thoại. Quản lý không đồng nghĩa với kiểm soát mọi hành vi; đồng hành là giúp trẻ hiểu vì sao một nội dung nguy hiểm, vì sao một lời rủ rê cần từ chối và khi nào cần tìm người lớn hỗ trợ.

Nhà trường là lớp bảo vệ tiếp theo. Giáo dục kỹ năng số, kỹ năng nhận diện nội dung độc hại, phòng chống bạo lực, ma túy và các tệ nạn cần được gắn với những tình huống học sinh có thể gặp trong thực tế. Cùng với đó là khả năng phát hiện sớm những thay đổi về tâm lý, học tập và quan hệ bạn bè để có sự phối hợp với gia đình.

Ở cấp cơ sở, chính quyền, Đoàn, Đội và các tổ chức xã hội cần tạo ra những không gian để trẻ được vận động, vui chơi, đọc sách, tham gia hoạt động cộng đồng, trải nghiệm và giao tiếp trực tiếp. Khi đời sống thực có nhiều hoạt động lành mạnh, trẻ có thêm lựa chọn tích cực thay vì tìm kiếm sự chú ý và kết nối chủ yếu trên môi trường mạng.

Trong hệ thống ấy, lực lượng công an có vai trò phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm; đồng thời phối hợp với nhà trường, gia đình và địa phương trong tuyên truyền, cảnh báo, tiếp nhận thông tin và xử lý các nguy cơ liên quan đến trẻ em.

Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn - Trưởng Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân phân tích, trách nhiệm của nền tảng số và các bên liên quan trong bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại trên không gian mạng.

Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn - Trưởng Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân phân tích, trách nhiệm của nền tảng số và các bên liên quan trong bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại trên không gian mạng.

Nhưng “lá chắn” sẽ khó hoàn chỉnh nếu thiếu trách nhiệm của các nền tảng số. Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn - Trưởng Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân cho rằng, các nền tảng không thể chỉ được xem là đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ, mà cần có trách nhiệm trong quản lý nội dung, xác định độ tuổi, phân loại và cảnh báo nội dung, thiết lập chế độ bảo vệ trẻ em, hạn chế các nội dung không phù hợp trong hệ thống đề xuất.

Đặc biệt, cần quan tâm đến thuật toán đề xuất. Một nội dung xấu nếu chỉ xuất hiện một lần đã đáng lo, nhưng mức độ nguy hiểm sẽ lớn hơn khi thuật toán liên tục đề xuất những nội dung tương tự tới nhiều trẻ em.

Cùng với đó, cơ chế báo cáo nội dung hoặc tài khoản có dấu hiệu vi phạm cần đơn giản, dễ tiếp cận và xử lý nhanh, nhất là với những vụ việc liên quan đến trẻ em. Khi có dấu hiệu của nội dung phạm pháp, cần kịp thời ngăn chặn, hạn chế phát tán và bảo toàn dữ liệu điện tử phục vụ xác minh, điều tra, xử lý.

Trách nhiệm này không thể dồn hết lên gia đình và nhà trường. Theo Đại tá, PGS.TS Lê Quang Toàn, trong môi trường dữ liệu và thuật toán ngày càng phức tạp, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát; các nền tảng phải thiết kế môi trường an toàn cho trẻ ngay từ khâu xây dựng; nhà trường trang bị kỹ năng số và kỹ năng tự bảo vệ; gia đình phối hợp quản lý, hướng dẫn và đồng hành cùng trẻ.

Đó cũng là cách chuyển từ tư duy “quản lý để bảo vệ” sang “giáo dục để tự bảo vệ”. Bởi một đứa trẻ chỉ biết sợ vì bị cấm sẽ khó tự xử lý khi không còn người lớn bên cạnh. Một đứa trẻ hiểu được rủi ro, biết nhận diện và biết lựa chọn mới có khả năng tự bảo vệ mình.

PGS.TS Triệu Thế Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh, yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục và xã hội an toàn, trang bị cho trẻ năng lực tự bảo vệ trước những tác động tiêu cực từ không gian mạng.

PGS.TS Triệu Thế Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh, yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục và xã hội an toàn, trang bị cho trẻ năng lực tự bảo vệ trước những tác động tiêu cực từ không gian mạng.

Từ góc độ chính sách giáo dục, PGS.TS Triệu Thế Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng cần được chuyển hóa thành những phẩm chất, năng lực và bản lĩnh cụ thể trong đời sống hiện đại.

Theo PGS.TS Triệu Thế Hùng, trước những tác động ngày càng đa dạng của môi trường số, cần giúp trẻ có kỹ năng nhận diện thông tin, tự kiểm soát hành vi, biết tìm kiếm sự hỗ trợ và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Không chỉ dạy các em tránh cái xấu, mà phải tạo được “sức đề kháng” để các em đủ trí tuệ nhận diện, đủ bản lĩnh từ chối và đủ nhân cách lựa chọn điều đúng.

Đó cũng chính là tinh thần của những lời dạy tưởng như giản dị nhưng có giá trị lâu dài: khiêm tốn, thật thà, dũng cảm; đoàn kết, kỷ luật; học tập và lao động. Trong môi trường số, những giá trị ấy không nằm ngoài đời sống mà trở thành năng lực để một người trẻ biết ứng xử trước thông tin, trước bạn bè, trước những lời rủ rê và trước chính những lựa chọn của mình.

Bảo vệ trẻ em trên môi trường số vì thế không thể chỉ dựng thêm những hàng rào. Điều quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống đủ mạnh ở bên ngoài và một “hệ miễn dịch” đủ tốt ở bên trong mỗi đứa trẻ.

Từ gia đình đến nhà trường, từ cộng đồng đến cơ quan quản lý, từ nền tảng số đến pháp luật, mỗi chủ thể đều có một phần trách nhiệm trong việc dựng nên “lá chắn” ấy. Và ở trung tâm của lá chắn không phải là một đứa trẻ bị quản lý, mà là một công dân tương lai được trang bị năng lực để tự lựa chọn và chịu trách nhiệm.

Không thể ngăn trẻ bước vào thế giới số. Nhưng có thể giúp các em bước vào đó với hành trang đủ vững vàng. Đó là bước chuyển cần thiết từ việc dạy trẻ tránh nguy cơ sang giúp trẻ đủ bản lĩnh để đối diện với nguy cơ. Và khi màn hình ngày càng trở thành một phần của tuổi thơ, giáo dục công dân trong thời đại số cũng không thể đứng ngoài không gian ấy.

Có thể nói, một đứa trẻ được bảo vệ tốt không phải là đứa trẻ luôn sống trong những vòng tròn an toàn, mà là đứa trẻ từng bước được trang bị đủ kiến thức, bản lĩnh và khả năng tự lựa chọn khi không còn người lớn ở bên. Từ biết nói không với một lời rủ rê, một nội dung độc hại trên màn hình đến biết lựa chọn điều đúng trong đời sống, đó chính là quá trình chuẩn bị để các em tự đứng trên đôi chân của mình. Bởi rồi sẽ đến lúc mỗi “búp măng non” rời khỏi vòng tay cha mẹ, thầy cô, bước vào một thế giới rộng lớn hơn và phải tự lựa chọn con đường học tập, nghề nghiệp, cách sống và trách nhiệm của mình với xã hội.

Trần Sơn

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/ky-3-dung-de-man-hinh-nuoi-lon-nhung-thoi-quen-xau.html