Kỳ 3: Hướng tới phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Việc triển khai đồng bộ các chính sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc từng bước xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái. Tuy nhiên, đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ và những giải pháp căn cơ, phù hợp với đặc thù từng địa bàn.

Nhận diện những khó khăn, thách thức

Thực tiễn triển khai cho thấy, các dự án thành phần của Chương trình, nhất là Dự án 8 về “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” và Tiểu dự án 2 của Dự án 9 về “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống” đã tạo ra những chuyển biến tích cực.

Nhiều phụ nữ DTTS từng bước nâng cao vị thế, có cơ hội tham gia phát triển kinh tế, khẳng định vai trò trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa đồng đều, còn không ít rào cản cần tháo gỡ.

Phụ nữ dân tộc Mông được tuyên truyền về chính sách dân số, gia đình, sức khỏe sinh sản.

Phụ nữ dân tộc Mông được tuyên truyền về chính sách dân số, gia đình, sức khỏe sinh sản.

Theo đánh giá của Sở Dân tộc và Tôn giáo, một trong những khó khăn lớn là đặc điểm địa bàn rộng, chia cắt, nhiều thôn bản nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn. Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn hạn chế, trình độ dân trí không đồng đều.

Bên cạnh đó, mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán riêng, trong đó vẫn tồn tại những hủ tục lạc hậu liên quan đến hôn nhân, gia đình, vai trò giới... Những yếu tố này đã và đang tác động trực tiếp đến hiệu quả triển khai các chính sách về bình đẳng giới.

Đáng chú ý, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn còn diễn ra ở một số địa bàn, dù đã có nhiều nỗ lực tuyên truyền, vận động. Nguyên nhân một phần do đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông ở cơ sở còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng, nghiệp vụ. Điều này dẫn đến việc triển khai các hoạt động tuyên truyền chưa thật sự hiệu quả, thiếu chiều sâu.

Công tác thống kê, rà soát số liệu về hôn nhân cận huyết thống cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí, chủ yếu dựa vào báo cáo từ cơ sở nên chưa phản ánh đầy đủ thực trạng. Ở một số nơi, do tâm lý e ngại, nhạy cảm về văn hóa, đạo đức cộng đồng nên việc cung cấp thông tin chưa chính xác, gây khó khăn cho công tác đánh giá và xây dựng giải pháp phù hợp.

Bên cạnh đó, việc quản lý đăng ký kết hôn ở một số địa phương còn lỏng lẻo; chưa kiên quyết xử lý các trường hợp tảo hôn. Công tác xử phạt vi phạm còn lúng túng do thiếu hướng dẫn cụ thể. Đáng lưu ý, phần lớn các trường hợp tảo hôn đều thuộc hộ nghèo, nhận thức hạn chế, dẫn đến việc tiếp cận pháp luật còn nhiều trở ngại.

Trong quá trình triển khai Dự án 8, nhiều chỉ tiêu vẫn khó đạt theo kế hoạch. Việc hỗ trợ phụ nữ DTTS xây dựng mô hình sinh kế, nhất là các mô hình gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế. Nguyên nhân là do thiếu đối tượng đủ điều kiện theo tiêu chí dự án, trong khi trình độ tiếp cận công nghệ của phụ nữ vùng DTTS còn thấp.

Ngoài ra, năng lực của một bộ phận cán bộ Hội phụ nữ cơ sở còn hạn chế, chưa linh hoạt trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là hoạt động đối thoại chính sách. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp đôi khi chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai.

Một số mô hình như Tổ tiết kiệm vay vốn thôn bản tạm dừng do vướng mắc về cơ sở pháp lý, kéo theo tiến độ giải ngân và thực hiện chỉ tiêu bị ảnh hưởng. Việc áp dụng các quy định về quản lý, sử dụng vốn sự nghiệp theo quy định mới đã góp phần tháo gỡ một số khó khăn, nhưng vẫn còn những bất cập như định mức hỗ trợ thấp, chưa phù hợp với thực tế ở địa bàn đặc biệt khó khăn, ảnh hưởng đến việc duy trì và nhân rộng mô hình.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp căn cơ

Bình đẳng giới được Đảng và Nhà nước xác định không chỉ là mục tiêu xã hội mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, các chính sách trong giai đoạn tới cần tiếp tục được triển khai theo hướng toàn diện, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn.

Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng giới, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa. Nội dung tuyên truyền cần đổi mới, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng dân tộc; chú trọng hình thức trực quan, dễ hiểu, gắn với đời sống thực tế.

Việc khơi dậy nội lực, tinh thần chủ động vươn lên của phụ nữ DTTS là yếu tố then chốt để tạo ra sự thay đổi bền vững.

Một giải pháp quan trọng khác là đẩy mạnh lồng ghép bình đẳng giới trong tất cả các dự án, tiểu dự án của Chương trình giai đoạn 2026-2030. Bình đẳng giới cần được xác định là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, bảo đảm phụ nữ và nam giới được tiếp cận và thụ hưởng công bằng các nguồn lực phát triển.

Theo Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Khà Thị Luận, việc huy động nguồn lực xã hội cũng cần được chú trọng, thông qua sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng. Sự phối hợp liên ngành chặt chẽ sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình, dự án.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát cần được tăng cường, thực hiện thường xuyên, kịp thời phát hiện và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Việc nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả cần được đẩy mạnh, gắn với điều kiện cụ thể của từng địa phương.

Những mô hình phù hợp sẽ góp phần tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho phụ nữ và gia đình vùng DTTS.

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, trong đó sân khấu hóa được xác định là giải pháp hiệu quả trong thực hiện bình đẳng giới ở khu vực đồng bào DTTS và miền núi.

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, trong đó sân khấu hóa được xác định là giải pháp hiệu quả trong thực hiện bình đẳng giới ở khu vực đồng bào DTTS và miền núi.

Đối với vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp là yếu tố then chốt, bảo đảm các giải pháp được triển khai quyết liệt, hiệu quả.

Cùng với đó, cần phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ. Đây là những “cầu nối” quan trọng, có tiếng nói và ảnh hưởng lớn đến nhận thức, hành vi của người dân.

Một giải pháp thiết thực là đưa nội dung phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vào hương ước, quy ước thôn bản, gắn với các tiêu chí xây dựng đời sống văn hóa. Qua đó, tạo sự ràng buộc về mặt cộng đồng, từng bước thay đổi tập quán lạc hậu.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình cần được duy trì thường xuyên, với nội dung thiết thực, dễ tiếp cận. Đối tượng tuyên truyền cần tập trung vào thanh thiếu niên, học sinh, các cặp vợ chồng trẻ và đặc biệt là cha mẹ - những người có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định hôn nhân của con em.

Song song với đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và hướng dẫn cụ thể để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, bảo đảm tính răn đe và giáo dục. Đối với cán bộ, đảng viên nếu có người thân vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình cần có hình thức xử lý phù hợp, góp phần nâng cao trách nhiệm nêu gương.

Có thể khẳng định, việc xóa bỏ rào cản giới ở vùng đồng bào DTTS và miền núi không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài, gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Những kết quả đạt được trong thời gian qua là tiền đề quan trọng, nhưng để tạo ra chuyển biến thực chất, cần sự kiên trì, quyết tâm và đổi mới trong cách làm.

Trong giai đoạn tới, việc tiếp tục triển khai hiệu quả Dự án 8, Tiểu dự án 2 của Dự án 9 và các nội dung liên quan sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, từng bước xây dựng cộng đồng bình đẳng, tiến bộ, văn minh. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cấp, các ngành mà còn là sự nghiệp chung của toàn xã hội, vì một tương lai phát triển toàn diện và bền vững cho vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Nhóm PV

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/ky-3-huong-toi-phat-trien-ben-vung-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-251017.htm