Kỳ 5: Giáo dục đi trước một bước, kiến tạo công dân tương lai
Chiếc khăn quàng đỏ rồi sẽ được gấp lại, những bài học đầu đời rồi sẽ lùi lại phía sau, nhưng những giá trị được gieo từ tuổi thơ sẽ tiếp tục đi cùng mỗi con người trong suốt hành trình trưởng thành. Từ một đứa trẻ biết yêu Tổ quốc, sống kỷ luật, trung thực, biết tự bảo vệ mình trên không gian mạng đến một sinh viên lựa chọn nghề nghiệp, một người lao động làm chủ công nghệ hay một nhà khoa học tạo ra tri thức mới, đó là một hành trình mà giáo dục phải chuẩn bị từ rất sớm.
Nhưng tương lai không đứng yên để chờ giáo dục thích ứng. Công nghệ, trí tuệ nhân tạo, những ngành nghề mới và sự dịch chuyển của nền kinh tế thế giới đang làm thay đổi nhanh chóng những gì người học sẽ phải biết, phải làm và phải sáng tạo trong 10, 15 hay 20 năm tới. Bởi vậy, giáo dục của thời đại mới không thể chỉ giải quyết những yêu cầu của hiện tại, mà phải đi trước một bước để chuẩn bị con người cho một tương lai chưa hoàn toàn hình thành.
Nếu trước đây giáo dục chủ yếu trang bị cho người học những gì xã hội đã biết, thì giáo dục của thời đại mới phải giúp người học đủ năng lực để khám phá những điều xã hội chưa biết. Đó là sự chuyển dịch từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực; từ học để thi sang học để sống, làm việc, sáng tạo và cống hiến; từ thích ứng với những gì đã có sang đủ bản lĩnh để tạo ra những giá trị mới.
Trong tầm nhìn ấy, mỗi bài học hôm nay không chỉ chuẩn bị cho một kỳ thi, một nghề nghiệp hay một vị trí việc làm, mà đang góp phần hình thành nguồn nhân lực của Việt Nam trong tương lai: những con người có tri thức, kỹ năng, khát vọng, khả năng làm chủ khoa học - công nghệ và ý thức trách nhiệm với cộng đồng, đất nước.
Giáo dục phải đi trước một bước
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới đang khiến nhu cầu nhân lực biến đổi liên tục, trong khi đào tạo đại học vẫn cần thời gian để hoàn thiện một khóa học. Khoảng cách giữa yêu cầu thực tiễn và nguồn nhân lực được đào tạo vì thế khó tránh khỏi, thậm chí có thể ngày càng rộng. Theo PGS.TS Bùi Đức Thọ - Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, một trong những yêu cầu đặt ra là các trường phải chủ động đổi mới chương trình, tăng tính linh hoạt và trang bị cho sinh viên năng lực thích ứng.

PGS.TS Bùi Đức Thọ - Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân.
“Giáo dục đại học có độ trễ 4 năm đào tạo, trong khi công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo đang thay đổi rất nhanh. Vì vậy, các trường cần thiết kế chương trình linh hoạt, tích hợp năng lực AI, quản trị dữ liệu, cùng với đó thúc đẩy đào tạo liên ngành, xuyên ngành và nén chương trình đào tạo đại học về 3 năm, thay vì 4 năm như hiện nay, đồng thời thúc đẩy tinh thần học tập suốt đời”, PGS.TS Bùi Đức Thọ nhấn mạnh.
Không chỉ cần điều chỉnh thời lượng và nội dung đào tạo, giáo dục đại học còn phải thay đổi phương pháp giảng dạy, tạo môi trường để sinh viên chủ động học tập, nghiên cứu và rèn luyện năng lực thực hành. Theo PGS.TS Bùi Đức Thọ - Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, khi tri thức và công nghệ biến đổi nhanh, năng lực tự học, tự nghiên cứu ngày càng quan trọng; người học cần được tiếp cận những vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn, thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức có sẵn.
Cùng với năng lực chuyên môn, kỹ năng mềm, thể chất và khả năng tương tác trực tiếp cũng cần được chú trọng trong quá trình đào tạo. PGS.TS Bùi Đức Thọ lưu ý, trong bối cảnh công nghệ số và điện thoại thông minh ngày càng phổ biến, môi trường đại học cần tạo điều kiện để người học phát triển trí tuệ cảm xúc, khả năng giao tiếp và hợp tác.
Xin nhắc lại, nếu trước đây giáo dục chủ yếu trang bị cho người học những gì xã hội đã biết, thì giáo dục của thời đại mới phải giúp người học đủ năng lực để khám phá những điều xã hội chưa biết.
Một đứa trẻ từng học cách yêu Tổ quốc dưới sân trường, học những bài học đầu tiên về kỷ luật, trung thực, đoàn kết; lớn lên học cách sử dụng điện thoại, nhận diện nguy cơ trên mạng; rồi bước vào đại học, học cách tự lựa chọn ngành nghề và chịu trách nhiệm với tương lai. Nhưng xã hội mà các em bước vào sau 10, 15 hay 20 năm nữa sẽ không còn giống xã hội hôm nay.
Đó cũng là lý do câu chuyện giáo dục không thể dừng ở việc hôm nay học sinh học được bao nhiêu kiến thức, đạt bao nhiêu điểm hay đỗ vào trường nào. Câu hỏi lớn hơn là: những gì được học hôm nay có đủ giúp các em đứng vững trong một thế giới của ngày mai hay không.
Công nghệ đang thay đổi rất nhanh cách con người làm việc, giao tiếp, nghiên cứu và tiếp cận tri thức. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ con người xử lý dữ liệu, tạo nội dung, phân tích thông tin và thực hiện ngày càng nhiều công việc trước đây vốn cần rất nhiều thời gian. Những nghề mới xuất hiện, trong khi một số công việc có thể thay đổi sâu sắc hoặc thu hẹp bởi tự động hóa và AI.
Trong Kết luận về triển khai Nghị quyết 71, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu giáo dục phải đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, AI và các ngành chiến lược; đồng thời phải nắm bắt xu hướng của những ngành nghề mới và dự báo những ngành nghề có thể không còn tồn tại do ứng dụng AI.

PGS.TS Đặng Hoài Bắc - Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, nhấn mạnh vai trò của giáo dục đại học trong hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là đưa công nghệ vào lớp học. Theo PGS.TS Đặng Hoài Bắc - Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho rằng: Quan trọng hơn là thay đổi cách dạy, cách học và cách đánh giá để người học có thể làm chủ công nghệ.
“AI có thể nghĩ thay con người, nhưng không thể rèn luyện thay con người”, PGS.TS Bùi Đức Thọ - Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết.
Một học sinh biết sử dụng công cụ AI chưa chắc đã có năng lực của một người lao động thời đại AI. Điều cần hơn là khả năng đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, tư duy độc lập, giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác và chịu trách nhiệm với sản phẩm do mình tạo ra.
Một sinh viên biết sử dụng phần mềm chưa chắc đã trở thành kỹ sư giỏi. Một người biết tìm kiếm thông tin trên Internet chưa chắc đã có năng lực nghiên cứu. Và một người có thể sử dụng AI để tạo ra một sản phẩm chưa chắc đã hiểu được bản chất của vấn đề mình đang giải quyết.
Vì thế, giáo dục của thời đại mới phải hướng người học từ biết đến hiểu, từ hiểu đến làm, từ làm đến sáng tạo và từ sáng tạo đến tạo ra giá trị.
Đó chính là bước chuyển từ một nền giáo dục chủ yếu thích ứng với hiện tại sang một nền giáo dục chuẩn bị cho tương lai.
Từ “học để thi” đến “học để sống, làm việc và sáng tạo”
Một nền giáo dục hiện đại không thể chỉ được đo bằng số lượng học sinh đạt điểm cao. Điều quan trọng hơn là sau những năm tháng học tập, người trẻ có khả năng tự học, tự thích nghi, biết hợp tác, biết giải quyết vấn đề và có thể bước vào cuộc sống với tâm thế của một người trưởng thành hay không.
Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt yêu cầu chuyển mạnh sang phương pháp giáo dục hiện đại, tích cực, tăng cường tự học, trải nghiệm sáng tạo, phát huy tư duy độc lập và năng lực giải quyết vấn đề; đồng thời đổi mới kiểm tra, đánh giá để phản ánh thực chất kết quả học tập. Nghị quyết cũng nhấn mạnh phát triển STEM/STEAM, tăng cường ngoại ngữ và ứng dụng AI trong dạy và học.
Một bài học khoa học không nhất thiết chỉ kết thúc ở một bài kiểm tra. Nó có thể bắt đầu từ một vấn đề của đời sống, dẫn học sinh đến phòng thí nghiệm, một dự án nhỏ, một sản phẩm công nghệ hoặc một câu hỏi mà các em phải tự tìm cách trả lời.
Một giờ học lịch sử không chỉ để nhớ ngày tháng, mà để hiểu vì sao một dân tộc có thể vượt qua chiến tranh, gian khó và những thử thách lớn trong lịch sử. Một hoạt động thể thao không chỉ để rèn sức khỏe, mà còn dạy tinh thần kỷ luật, hợp tác và vượt qua giới hạn của bản thân.
Một chuyến đi đến di tích lịch sử, một hoạt động cộng đồng, một trải nghiệm nghề nghiệp hay một dự án nghiên cứu có thể trở thành một “lớp học” khác, nơi học sinh học cách giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết tình huống và chịu trách nhiệm.
Học không còn chỉ diễn ra trong bốn bức tường của lớp học. Và trải nghiệm không còn là phần “thêm vào” sau giờ học. Đó phải trở thành một phần của quá trình hình thành con người.
Từ những câu chuyện ở các kỳ trước của loạt bài này, có thể thấy một đứa trẻ cần được yêu thương nhưng không thể được bao bọc mãi; được định hướng nhưng không thể bị áp đặt; được bảo vệ nhưng phải từng bước học cách tự bảo vệ mình; được trao kiến thức nhưng cuối cùng phải biết biến kiến thức thành năng lực và năng lực thành hành động. Đó chính là hành trình từ “học sinh” đến “người học”. Và xa hơn nữa là hành trình từ “người học” đến “người lao động có năng lực”.
Khi lớp học phải mở cửa với thế giới
Hội nhập quốc tế mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và công nghệ mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguồn nhân lực. Để có thể tham gia vào những lĩnh vực nghiên cứu và sáng tạo ở tầm quốc tế, người học không chỉ cần nền tảng chuyên môn vững chắc, mà còn phải được bồi đắp tư duy độc lập, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm với cộng đồng.
Trong hành trình chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai, năng lực khoa học - công nghệ cần được đặt cùng với phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Bởi làm chủ công nghệ không chỉ là nắm vững tri thức chuyên môn, mà còn là biết định hướng tri thức ấy vào những mục tiêu có ích cho con người và đất nước. Từ góc nhìn của một nhà khoa học, GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng giáo dục phải góp phần hình thành những người nghiên cứu có năng lực chuyên môn, ý chí dấn thân và nền tảng nhân văn.
Dẫn lại yêu cầu phát triển công nghệ gắn liền với phát triển con người, bảo tồn văn hóa và hoàn thiện thể chế được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, GS.TS Chu Hoàng Hà nhìn nhận đây cũng là “kim chỉ nam” về phẩm chất của một nhà nghiên cứu thực thụ. Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, phẩm chất ấy được bồi đắp từ ba yếu tố: liêm chính trong nghiên cứu, sức bền trước những thất bại và lý tưởng phụng sự xã hội.
“Ý chí đầu tiên của người làm nghiên cứu là lòng trung thực với sự thật khách quan, kể cả khi sự thật đó bác bỏ giả thuyết mà họ đã dày công xây dựng. Nhà nghiên cứu giỏi không chấp nhận những câu trả lời dễ dãi, mà luôn đặt câu hỏi về bản chất cốt lõi của vấn đề”, GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh.

GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trả lời PV - Báo Pháp luật Việt Nam.
Theo GS.TS Chu Hoàng Hà, giáo dục đại học cần chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển năng lực cốt lõi, trong đó có ngoại ngữ chuyên ngành, tư duy số, phản biện, giải quyết vấn đề phức tạp và khả năng tự học. Đồng thời, nhà trường cần gắn kết thực chất hơn với doanh nghiệp, từ xây dựng chương trình, đầu tư phòng thí nghiệm đến đặt hàng nghiên cứu. Ông cũng đề xuất chính sách thu hút đầu tư công nghệ cao cần chú trọng chuyển giao công nghệ, phát triển hoạt động nghiên cứu và tăng cơ hội để kỹ sư Việt Nam tham gia vào các khâu thiết kế, sáng tạo.
“Không một quốc gia nào vươn lên thành cường quốc chỉ dựa vào gia công và nhân công giá rẻ”, GS.TS Chu Hoàng Hà nhấn mạnh, đồng thời cho rằng chiến lược phát triển công nghệ cần được duy trì trong thời gian dài, với sự đầu tư và kế thừa qua nhiều thế hệ.
Nếu Việt Nam muốn bước sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, giáo dục cũng không thể chỉ nhìn vào những yêu cầu của thị trường lao động trong nước.
Nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, trong khi vốn FDI thực hiện đạt khoảng 27,62 tỷ USD. Sang quý I/2026, vốn FDI đăng ký đạt 15,20 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, định hướng mới về FDI không chỉ đặt vấn đề thu hút vốn. Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu thu hút nguồn vốn chất lượng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm điện tử, chip bán dẫn, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, năng lượng và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác.
Những thay đổi đó đặt giáo dục trước một yêu cầu rất cụ thể: Không thể thu hút những ngành công nghệ cao nếu thiếu con người đủ trình độ để làm chủ công nghệ cao.
Một nhà đầu tư có thể mang nhà máy đến Việt Nam, nhưng để hình thành trung tâm nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm hay chuỗi cung ứng có giá trị gia tăng cao, điều quyết định vẫn là con người. Đó là những kỹ sư có khả năng giải quyết vấn đề. Những chuyên gia có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Những nhà nghiên cứu đủ trình độ để tạo ra tri thức mới. Những người lao động kỹ thuật có kỹ năng nghề cao. Những nhà quản trị hiểu công nghệ. Và những người trẻ có khả năng học lại, học tiếp, thích ứng với một công việc có thể thay đổi chỉ sau vài năm.
Nói cách khác, đầu tư cho giáo dục chính là chuẩn bị năng lực hấp thụ và làm chủ những cơ hội phát triển mà đất nước đang mở ra. Không chỉ đào tạo người sử dụng công nghệ, phải đào tạo người tạo ra công nghệ Đây có lẽ là bước chuyển quan trọng nhất của giáo dục trong giai đoạn tới.
Nếu chỉ đào tạo người sử dụng công nghệ, chúng ta có thể theo kịp sự thay đổi trong một khoảng thời gian. Nhưng muốn tiến lên những nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị, Việt Nam phải có những con người có khả năng nghiên cứu, phát minh, thiết kế, sáng tạo và làm chủ công nghệ.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng của phát triển, đồng thời đặt vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học và công nghệ vào vị trí then chốt.
Trong định hướng triển khai, giáo dục đại học được yêu cầu đi trước trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược. Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu đầu tư thích đáng cho khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn để phát triển công nghệ đi cùng với phát triển con người, văn hóa và thể chế. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt. Bởi đằng sau một công nghệ mới có thể là nhiều năm nghiên cứu cơ bản.
Đằng sau một phát minh có thể là một câu hỏi khoa học được đặt ra từ rất lâu. Đằng sau một nhà khoa học giỏi là cả quá trình từ một học sinh tò mò với thế giới, một sinh viên say mê nghiên cứu đến một người làm khoa học có đủ điều kiện theo đuổi những vấn đề mà không phải lúc nào cũng cho kết quả ngay lập tức.
Vì thế, nếu muốn 10 hay 20 năm nữa có những nhà khoa học Việt Nam đủ sức đứng trong các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới, thì việc gieo hạt giống khoa học không thể chờ đến đại học. Nó phải bắt đầu từ trường tuổi thơ ấu đến các cấp học sinh. Và từ một môi trường biết trọng dụng người có tài, tôn trọng lao động trí tuệ và tạo không gian để nhà khoa học cống hiến.
Năm 2026, chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược cũng đã được đặt ra trong Nghị định 179/2026/NĐ-CP, cùng với các chương trình hỗ trợ đào tạo nhà khoa học trẻ và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cơ bản. Những chính sách ấy cho thấy một điều: bài toán nhân lực của Việt Nam không thể chỉ là có đủ người làm việc, mà phải có đủ người giỏi để tạo ra những giá trị mới.
Một đứa trẻ bước vào lớp 1 hôm nay có thể sẽ trở thành kỹ sư, nhà khoa học, bác sĩ, nhà giáo, chuyên gia công nghệ hoặc người lao động kỹ thuật vào những năm 2040.
Khi ấy, những công nghệ đang được coi là mới hôm nay có thể đã trở thành một phần bình thường của cuộc sống. Những nghề mà chúng ta đang đào tạo có thể thay đổi. Những yêu cầu về kỹ năng có thể thay đổi. Thậm chí, một số ngành nghề có thể biến mất, trong khi những nghề chưa có tên hôm nay sẽ trở thành nghề nghiệp phổ biến.
Vì vậy, giáo dục không thể dự báo chính xác từng công việc của tương lai. Nhưng giáo dục có thể chuẩn bị cho người học năng lực để thích ứng với tương lai. Đó là khả năng tự học. Tư duy phản biện. Năng lực khoa học. Năng lực số. Ngoại ngữ. Khả năng hợp tác. Khả năng sáng tạo. Kỷ luật. Đạo đức. Tinh thần trách nhiệm Và khát vọng vươn lên.
Đây cũng là lý do yêu cầu “giáo dục phải đi trước một bước” không chỉ là một khẩu hiệu về tốc độ đổi mới chương trình. Đó là yêu cầu đi trước nhu cầu nhân lực của nền kinh tế, đi trước sự thay đổi của công nghệ và đi trước những biến động của thế giới.
Nếu giáo dục luôn chạy theo thị trường lao động hiện tại, đến khi người học tốt nghiệp, thị trường có thể đã thay đổi. Nhưng nếu giáo dục xây dựng được năng lực nền tảng, người học có thể tiếp tục học, tiếp tục thích nghi và tiếp tục tạo ra giá trị trong những điều kiện mới.
Đó mới là năng lực cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Một thế hệ không chỉ giỏi nghề mà còn có khát vọng cống hiến.
Nhưng nếu chỉ nói về năng lực lao động, câu chuyện giáo dục vẫn chưa hoàn chỉnh. Bởi một đất nước không chỉ cần những người giỏi. Đất nước cần những người giỏi và có trách nhiệm.
Nghị quyết 71 đặt giáo dục trong tổng thể yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, tự chủ, tự cường; trong khi Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường.
Từ một “búp măng non” đến một người lao động có kỹ năng, một nhà khoa học, một kỹ sư, một người thầy, một chiến sĩ, một bác sĩ hay bất kỳ công dân nào đang làm việc tử tế, hành trình ấy không bắt đầu từ ngày bước vào nghề. Nó bắt đầu từ những năm tháng đầu tiên được học cách yêu thương, học tập, kỷ luật, trung thực và dũng cảm. Và cũng từ đó, câu chuyện giáo dục mở ra một vòng tròn lớn hơn.
Gieo một giá trị hôm nay để hình thành một con người ngày mai. Đào tạo một con người hôm nay để tạo nên nguồn lực cho đất nước trong tương lai. Trong tầm nhìn ấy, giáo dục không chỉ trả lời câu hỏi một học sinh sẽ trở thành ai, mà phải trả lời câu hỏi Việt Nam sẽ có những con người như thế nào sau 10 năm, 20 năm nữa. Một thế hệ có đủ tri thức để bước vào những ngành công nghệ mới. Có đủ năng lực để làm việc trong những môi trường quốc tế. Có đủ bản lĩnh để không bị cuốn theo những biến động của thời đại. Có đủ trí tuệ để nghiên cứu những điều chưa biết. Có đủ khát vọng để không bằng lòng với những gì đã có. Và có đủ trách nhiệm để hiểu rằng thành công của một cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó tạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước.

PGS.TS Triệu Thế Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội trả lời PV - Báo Pháp luật Việt Nam.
“Để những giá trị được gieo từ tuổi thơ trở thành năng lực của công dân tương lai, cần một hệ thống chính sách nhất quán, từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học, từ phát triển phẩm chất, năng lực người học đến đầu tư cho khoa học, công nghệ và nhân tài. Chính sách phải mở ra cơ hội học tập công bằng, tạo môi trường để người trẻ phát huy tiềm năng, biến khát vọng thành hành động và đóng góp thiết thực cho đất nước. Đầu tư cho giáo dục hôm nay chính là chuẩn bị nền tảng con người cho Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hùng cường trong tương lai”, PGS.TS Triệu Thế Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh.
Đó là yêu cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam trong chặng đường mới. Không chỉ dạy những gì hôm nay cần, mà phải chuẩn bị những gì ngày mai đất nước cần. Không chỉ tạo ra người biết làm việc, mà tạo ra những người có thể sáng tạo, làm chủ tri thức và công nghệ.
Không chỉ đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường, mà hình thành một thế hệ công dân có hoài bão, khát vọng và trách nhiệm cống hiến.
Bởi nếu 10 hay 20 năm nữa Việt Nam muốn đứng ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, muốn có những trung tâm nghiên cứu mạnh, những công nghệ do người Việt làm chủ, những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế và một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, thì những viên gạch đầu tiên phải được đặt từ hôm nay. Và những viên gạch ấy bắt đầu từ mỗi lớp học, mỗi người thầy, mỗi gia đình và mỗi đứa trẻ đang đứng dưới sân trường. Từ lời Bác Hồ dạy đến bản lĩnh công dân, vì thế, không phải là hành trình kết thúc khi chiếc khăn quàng đỏ được tháo xuống.
Đó là hành trình tiếp tục đi cùng một con người suốt cuộc đời, từ một đứa trẻ học cách yêu Tổ quốc đến một công dân dùng tri thức, năng lực và khát vọng của mình để góp phần xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.
