Kỷ nguyên 'mã đáo thành công'

Việt Nam bước vào mùa Xuân Bính Ngọ 2026 với hành trang khá tích cực. Quy mô GDP ước đạt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới. Đặc biệt, Đại hội XIV của Đảng bổ sung quan điểm 'lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước'; khẳng định 'phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm'.

Định hướng này cùng với làm tốt ba việc: quy hoạch, quản trị bền vững các nguồn lực, và hợp tác quốc tế - sẽ mở ra không chỉ một năm mà là một kỷ nguyên mã đáo thành công.

Thế giới đang tiến dần đến kỷ nguyên đa cực mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Nền kinh tế toàn cầu một lần nữa chứng tỏ khả năng phục hồi vượt trội trước những bất ổn kinh tế và biến động địa chính trị. Tuy nhiên, tăng trưởng và phúc lợi sẽ phụ thuộc vào cách thức quản trị của quốc gia trong một trật tự kinh tế toàn cầu mới, với những thách thức tài chính như thuế quan, tiền mã số… và sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo (AI). Các nhà nghiên cứu dự đoán, 39% kỹ năng hiện có của người lao động sẽ thay đổi hoặc trở nên lỗi thời.

Bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Nguồn: T.L

Bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Nguồn: T.L

Việt Nam - với đặc thù của một quốc gia đang phát triển, đất chật, người đông và trải dài bên bờ Biển Đông, để phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời kỳ mới, cần tập trung ba lĩnh vực then chốt.

Quy hoạch, định hướng tầm nhìn và xác định nguồn lực

Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường cần đóng vai trò nền tảng để liên kết các nguồn lực, bảo đảm công bằng, minh bạch và phát huy sức mạnh tổng hợp. Yêu cầu này càng cấp thiết trong bối cảnh cả nước đã sắp xếp lại các đơn vị hành chính; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tinh gọn tổ chức, bộ máy.

Với hệ thống chỉ tiêu vĩ mô và mục tiêu tăng trưởng chủ yếu, quy hoạch sẽ là “kim chỉ nam” định hướng huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo dư địa cho đột phá phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Quy hoạch quốc gia cần được xây dựng trên mô hình quản trị “ngũ hành nguồn lực” gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người, vốn xã hội và vốn sản phẩm; coi trọng sự cân bằng và tích lũy 5 nhóm nguồn lực cốt lõi này.

Quản trị bền vững các nguồn lực

Quản trị bền vững các nguồn lực là điều kiện để bảo đảm tiếp cận công bằng, quản lý có trách nhiệm và hài hòa lợi ích chung. Mục tiêu cuối cùng là tạo dựng nền tảng “giàu có lâu dài”, thay vì chỉ tối đa hóa lợi ích ngắn hạn.

Trước hết là nguồn lực tài chính. Về bản chất, quản trị vốn tài chính là xác định đúng giá trị của các nguồn lực, từ đó đánh giá năng lực thực tế của nền kinh tế, tạo dòng tiền và nguồn vốn có tính thanh khoản cao. Việc phân bổ và giải ngân cần được thực hiện công khai, minh bạch, hướng tới tối ưu hiệu quả sử dụng vốn và thúc đẩy tăng trưởng.

Trong bối cảnh nước ta, điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là lãi suất, cần linh hoạt và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp nhà nước - được xác định giữ vai trò chủ đạo, cần thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, tiên phong nâng chất lượng dịch vụ thiết yếu và tạo “lực kéo” cho khu vực tư nhân. Đối với đất đai, yêu cầu đặt ra là xây dựng phương pháp định giá sát thực tế và chính sách thuế hợp lý - đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm tiếp cận bình đẳng, hạn chế đầu cơ, đồng thời thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

Cùng với đó, cần thúc đẩy quốc tế hóa đồng tiền thông qua phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ phù hợp; phát triển các trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Trên nền tảng các hiệp định thương mại tự do, Việt Nam có thể mở rộng sử dụng VNĐ trong thanh toán, từng bước nâng vị thế đồng tiền quốc gia.

Tiếp theo là nguồn lực tài nguyên. Các tài nguyên cơ bản như đất đai, khoáng sản, cây xanh, rừng, sông hồ, biển và không gian (kể cả không gian ngầm) cần được xác định, kiểm kê và đánh giá thường xuyên trên nguyên tắc công khai, minh bạch. Mục tiêu là bảo đảm khai thác hợp lý, sử dụng công bằng, có tích lũy và không làm suy kiệt nguồn lực, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.

Với lợi thế 21/34 tỉnh, thành phố có biển, nước ta có dư địa lớn để phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, thiên tai và biến đổi khí hậu, đặc biệt tại khu vực ven biển, đang tác động ngày càng nghiêm trọng tới tài nguyên và sinh kế. Do đó, bên cạnh các giải pháp “cứng” về hạ tầng và công trình, cần thúc đẩy các giải pháp “mềm” về quản trị rủi ro, tập trung kiểm soát cách con người và tài sản tương tác với các vùng dễ tổn thương, giảm thiểu thiệt hại và nâng cao khả năng phục hồi.

Kế tiếp là nguồn lực con người. Là quốc gia đông dân và đang phát triển, nước ta cần theo đuổi “mục tiêu kép” giữa tăng trưởng GDP và tạo việc làm. Ưu tiên tăng trưởng tạo nhiều việc làm phải đi cùng việc nâng chất lượng điều kiện lao động, từ thu nhập, môi trường làm việc đến nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm xã hội. Các chính sách cần bảo đảm thành quả tăng trưởng được phân bổ rộng rãi, thúc đẩy bình đẳng giới, giảm nghèo và củng cố ổn định xã hội, qua đó tạo vòng tuần hoàn tích cực giữa năng suất và chất lượng sống.

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, nước ta cũng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần chủ động đào tạo và phát triển lực lượng lao động có kỹ năng công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực như AI, phân tích dữ liệu, lập trình và an ninh mạng.

Tiếp theo là nguồn lực xã hội. Cần tiếp tục cải cách thể chế, đưa thể chế trở thành động lực then chốt cho tăng trưởng và đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo không gian để huy động các lực lượng xã hội tham gia phát triển đất nước.

Trọng tâm không chỉ là xây dựng Nhà nước pháp quyền và vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mà còn phải hình thành khuôn khổ thể chế cho các lĩnh vực mới như kinh tế số, năng lượng xanh… Trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cần thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và hợp tác hiệu quả giữa các khu vực kinh tế.

Đồng thời, yêu cầu đặt ra là tiếp tục tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị. Bộ máy hành chính cần chuyển mạnh sang vai trò quản trị và phân bổ nguồn lực; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có đạo đức, tầm nhìn, có năng lực huy động nguồn lực, bản lĩnh quyết đoán.

Bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Nguồn: T.L

Bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Nguồn: T.L

Cuối cùng là nguồn lực sản phẩm. Cơ sở hạ tầng là hạt nhân của nhóm nguồn lực này, bao gồm các tài sản vật chất do con người tạo ra như công trình, nhà cửa, đường sá, máy móc và hệ thống công nghệ.

Bên cạnh các nguồn năng lượng truyền thống, cần đẩy nhanh chuyển dịch sang năng lượng xanh, giảm phát thải, phát triển mạnh năng lượng tái tạo và nghiên cứu, khai thác phù hợp điện hạt nhân. Đồng thời, ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, gồm đường sắt, đường bộ cao tốc, đường thủy và hàng không, nhằm tăng kết nối liên vùng và hội nhập quốc tế.

Các đô thị đầu tàu kinh tế như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cần đẩy nhanh phát triển hạ tầng giao thông công cộng, trọng tâm là hệ thống đường sắt đô thị để giảm ùn tắc; mở rộng không gian xanh, đầu tư đồng bộ hệ thống cấp thoát nước, xử lý môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống và phát triển đô thị bền vững.

Song song với hiện đại hóa các ngành công nghiệp trọng điểm, cần đầu tư hạ tầng cho công nghiệp số, gồm internet tốc độ cao, mạng lưới IoT, điện toán đám mây, AI và an ninh mạng. Đặc biệt, quá trình phát triển hạ tầng và các ngành công nghiệp then chốt cần gắn với chiến lược công nghiệp lưỡng dụng, bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh.

Chiến lược hợp tác quốc tế

Trong bối cảnh nền kinh tế mở và hội nhập sâu rộng, năng lực lãnh đạo gắn với ngoại giao và quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng. Các nhà lãnh đạo cần chủ động tham gia ngoại giao hiệu quả, bởi Việt Nam vừa cần đối tác, vừa cần đối thủ cạnh tranh. Đối tác mang lại nguồn lực, mở rộng thị trường, giảm chi phí và tăng sức mạnh hợp tác chuỗi cung ứng; trong khi đó, đối thủ cạnh tranh tạo áp lực đổi mới, nâng chuẩn thị trường và thúc đẩy tự hoàn thiện.

Trong quá trình đó, Việt Nam cần củng cố quan hệ bền chặt với các quốc gia, nhất là khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các đối tác chiến lược toàn diện; đồng thời tham gia tích cực vào các cơ chế, tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia. Đây là nền tảng để thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ tiên tiến, thúc đẩy thương mại và mở rộng hợp tác.

Đặc biệt, trong bối cảnh chính sách thuế quan đối ứng có thể làm xáo trộn các thiết chế thương mại đa phương và ảnh hưởng mạnh tới chuỗi cung ứng toàn cầu, yêu cầu nâng cao năng lực đàm phán quốc tế càng trở nên cấp thiết.

Triển khai hiệu quả ba lĩnh vực then chốt nói trên ngay từ đầu năm Bính Ngọ với biểu tượng của sự nhanh nhẹn và đầy năng lượng sẽ góp phần “sản sinh” những “nguồn mã lực” mạnh mẽ, góp phần mở ra không chỉ một năm mà là một kỷ nguyên mã đáo thành công, đưa đất nước đạt được hai mục tiêu “trăm năm” và trở thành một quốc gia thịnh vượng.

TS. Đoàn Duy Khương

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/ky-nguyen-ma-dao-thanh-cong-10406872.html