Kỷ niệm 51 năm Giải phóng tỉnh Khánh Hòa (4-1975 - 4-2026): Nhớ những ngày tháng Tư lịch sử

Những ngày tháng Tư, chúng tôi có dịp tìm gặp một số nhân chứng lịch sử từng tham gia giải phóng Nha Trang và Phan Rang vào tháng 4-1975. Tuy đã hơn nửa thế kỷ nhưng ký ức hào hùng của một thời “hoa lửa” vẫn vẹn nguyên, sống mãi trong trái tim những người đã góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của Nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ký ức ngày giải phóng Nha Trang

Tại nhà riêng ở phường Nam Nha Trang, chúng tôi được cựu chiến binh Lê Thuận Kha - nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực, Đại đội 4, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 kể lại chiến công của Sư đoàn 10 đập tan “lá chắn thép” tại đèo Phượng Hoàng (nằm giữa Đắk Lắk - Khánh Hòa), mở toang cửa ngõ Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển, tiến về giải phóng Nha Trang…

Ông Lê Thuận Kha kể về những ngày chiến đấu ác liệt đập tan “lá chắn thép” ở đèo Phượng Hoàng tiến về giải phóng Nha Trang.

Ông Lê Thuận Kha kể về những ngày chiến đấu ác liệt đập tan “lá chắn thép” ở đèo Phượng Hoàng tiến về giải phóng Nha Trang.

Mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 10 là một trong những đơn vị chủ lực tham gia Chiến dịch Tây Nguyên. Đơn vị được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột. Sau khi quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 10 giải phóng Khánh Dương, địch đổ Lữ đoàn dù số 3, cùng một số lực lượng lập tuyến phòng thủ mạnh tại đèo Phượng Hoàng với ý đồ chặn đường tiến công của quân ta theo đường 21 (nay là Quốc lộ 26) từ Tây Nguyên xuống đồng bằng. Sư đoàn 10 được giao nhiệm vụ bằng mọi giá phải đập tan “lá chắn thép” của địch ở đèo Phượng Hoàng để tiến xuống giải phóng tỉnh Khánh Hòa.

Dọc con đèo quanh co, hiểm trở, do quân địch đã đổ quân trước, bố trí trận địa với hỏa lực mạnh ở những điểm cao, lập sở chỉ huy, cùng các trận địa pháo, xe tăng ở trên cao quan sát tầm xa và rộng nên quân ta đánh lên rất khó khăn. Do đó, đơn vị đã áp dụng chiến thuật đánh bao vây chia cắt địch, bộ binh vòng leo lên đỉnh núi và đánh tạt sườn, chia cắt đội hình quân địch; phối hợp với xe tăng, pháo đánh thẳng vào đội hình địch. Từ đêm 29-3 đến rạng sáng 1-4-1975, pháo của ta đã tiêu diệt địch ở nhiều trận địa, khiến chúng rối loạn, rút chạy. Quân địch rút chạy lại bị quân ta chặn đánh. Trung đoàn 24 chặn đánh địch ở cầu Suối Chình (xã Tây Ninh Hòa) khi chúng rút chạy về Ninh Hòa. Tiểu đoàn 8 chặn đánh đám tàn quân rút chạy về phía Buôn Ma Thuột, tiêu diệt nhiều tên địch. Sau 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, Sư đoàn 10 đã loại khỏi vòng chiến đấu Lữ đoàn dù số 3 của địch, đập tan “lá chắn thép” ở đèo Phượng Hoàng.

Chớp thời cơ, sáng 1-4-1975, quân ta tiến xuống chiếm Trung tâm huấn luyện Lam Sơn - căn cứ biệt kích đóng quân Dục Mỹ và giải phóng luôn Ninh Hòa. Trên đà thắng lợi, sau khi làm chủ Ninh Hòa, Sư đoàn 10 đã tranh thủ thời cơ nhanh chóng tổ chức lực lượng đột phá bằng binh chủng hợp thành, huy động toàn bộ xe cơ giới của ta và mượn xe dân để chở bộ đội đi thật nhanh, tiến thẳng theo Quốc lộ 1 vào giải phóng Nha Trang.

Quân giải phóng tiến vào Khánh Hòa tháng 4-1975. Ảnh tư liệu

Quân giải phóng tiến vào Khánh Hòa tháng 4-1975. Ảnh tư liệu

Sau khi tuyến phòng thủ ở đèo Phượng Hoàng bị đập tan, quân địch ở Nha Trang hỗn loạn tìm cách tháo chạy. 17 giờ ngày 2-4-1975, sau khi đánh tan các chốt điểm của địch ở đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì, lực lượng binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 rầm rộ vượt qua cầu Xóm Bóng tiến vào giải phóng Nha Trang. Nhân dân đổ ra đường đón bộ đội. Những tiếng hoan hô vang dội, vui mừng khôn xiết. Nhà nhà đều treo cờ Mặt trận, người người đều cầm cờ trên tay vẫy chào. Sau khi giải phóng Nha Trang, ngày 3-4-1975, Sư đoàn 10 tiếp tục tiến quân giải phóng Cam Ranh và Khu liên hợp quân sự Cam Ranh; sau đó tiến vào phía nam giải phóng sân bay Thành Sơn (phường Đô Vinh hiện nay), rồi cùng các lực lượng tham gia tiến công giải phóng Sài Gòn, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Thành phấn khởi về những thành tựu của Khánh Hòa sau ngày giải phóng.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Thành phấn khởi về những thành tựu của Khánh Hòa sau ngày giải phóng.

Từng 10 năm chiến đấu ở chiến trường Khánh Hòa, Đại tá Nguyễn Văn Thành - nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh nhớ lại những ngày tháng Tư lịch sử: "Khi đó, tôi là Trợ lý tác chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa. Với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, quân và dân Khánh Hòa đã phát động toàn lực để phối hợp với các đơn vị chủ lực giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa. Hướng từ phía bắc do Sư đoàn 10, cùng lực lượng của bộ và Quân khu 5 tiến đánh địch từ đèo Rọ Tượng, qua đèo Rù Rì vào Nha Trang qua cầu Xóm Bóng. Hướng phía tây gồm các lực lượng vũ trang của tỉnh: Tiểu đoàn 480, đại đội trinh sát, đại đội công binh, đại đội 548 và lực lượng của Diên Khánh phối hợp tiến vào Nha Trang. Tại Nha Trang, lực lượng vũ trang của Nha Trang cùng các cơ sở cách mạng nổi dậy tiến đánh và phối hợp cùng Sư đoàn 10 và các lực lượng của tỉnh giải phóng Nha Trang vào ngày 2-4-1975. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, cùng các đơn vị tiến vào Nha Trang và lập Sở chỉ huy trên đường Nguyễn Thiện Thuật hiện nay để lãnh đạo chỉ huy các đơn vị tiêu diệt những tên địch còn ngoan cố chống cự không chịu đầu hàng; tiến hành củng cố, xây dựng lực lượng cơ sở cách mạng và các đoàn thể; tăng cường lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng; thu vũ khí quân trang, quân dụng của địch bỏ lại; phân loại đối tượng ngụy quân, ngụy quyền; động viên Nhân dân ổn định tình hình, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong ngày giải phóng, quân và dân Khánh Hòa rất phấn khởi, tự hào, hân hoan; Nhân dân phấn khởi tự may cờ, mang những bó hoa tươi thắm ra 2 bên đường đón chào quân giải phóng, với niềm xúc động tự hào vô bờ bến".

Đập tan “lá chắn thép” ở Phan Rang

Sau những thất bại ở Tây Nguyên và các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, địch nhận thấy nguy cơ bị ta tấn công dồn dập về hướng Sài Gòn là rất lớn. Để ngăn chặn các cuộc tiến quân của ta và có thể bảo vệ Sài Gòn từ xa, địch chọn Phan Rang - nơi có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng làm lá chắn để ngăn chặn.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm tòa hành chính của ngụy ở tỉnh Ninh Thuận cũ, ngày 16-4-1975. Ảnh tư liệu

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm tòa hành chính của ngụy ở tỉnh Ninh Thuận cũ, ngày 16-4-1975. Ảnh tư liệu

Theo Trung tá Nguyễn Trọng Nghĩa - nguyên Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 311, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận cũ (hiện nay sinh sống ở Tổ dân phố 4, phường Đô Vinh), từ ngày 1 đến 3-4-1975, các toán tàn quân ở Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 về Phan Rang đã lôi kéo theo một số đơn vị địch từ đèo Krôngpha trở xuống. Lúc này, ông Nghĩa được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội Đặc công 311 thực hiện nhiều cuộc tấn công ngăn chặn, tiêu diệt tàn quân địch từ Đà Lạt tháo chạy về Phan Rang. Trong một trận đánh đêm 2-4-1975 tại các ấp ở Sông Mỹ, quân địch từ Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 đã điên cuồng dùng pháo 105 ly bắn phá ác liệt để mở đường xuống Phan Rang, nhưng đã gặp phải sự ngăn chặn quyết liệt của Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương. Trong trận đánh này, ông Nghĩa bị thương khá nặng và được đơn vị đưa về căn cứ Bác Ái để chữa trị.

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa nhớ lại: “Lúc này, quân địch rất hoang mang, tháo chạy từ Đà Lạt xuống Phan Rang với một đoàn xe dài hàng chục chiếc. Ngày 5-4-1975, dù còn bị thương ở đầu, song với quyết tâm chiến đấu giải phóng Ninh Thuận sớm nhất, tôi từ Bác Ái xuống xóm Dừa (nay là Tổ dân phố 7, phường Đô Vinh) để họp bàn kế hoạch tác chiến với các đảng viên. Tuy nhiên, do lực lượng địch ở khu vực Tháp Chàm được tăng cường, chưa thể liên lạc với Chi bộ xóm Dừa nên tôi cùng Đại đội Đặc công 311 di chuyển đến khu vực núi Cà Đú đánh chặn một số toán địch từ Nha Trang tháo chạy vào. Đêm 6-4-1975, tôi vào xóm Dừa họp bàn khởi nghĩa. Đến 19 giờ ngày 7-4-1975, lực lượng đặc công 311 và biệt động 314, các đội vũ trang công tác, du kích mật, các đảng viên cơ sở nòng cốt và một số dân vệ, phòng vệ dân sự của địch được ta giác ngộ... chia làm 3 mũi tấn công trại Nguyễn Hoàng, ga Tháp Chàm, cầu Mống, ngã ba Tháp Chàm và quận lỵ Bửu Sơn…”.

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa (ở giữa) trò chuyện với cán bộ Hội Cựu Chiến binh phường Đô Vinh về những ngày tháng Tư lịch sử.

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa (ở giữa) trò chuyện với cán bộ Hội Cựu Chiến binh phường Đô Vinh về những ngày tháng Tư lịch sử.

Sáng 8-4-1975, bọn địch ở sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang - Tháp Chàm cho lực lượng ra phản kích. Đại đội Đặc công 311 được dân quân du kích và Nhân dân xóm Dừa giúp đỡ, kiên cường chiến đấu bám giữ các khu vực đã chiếm. Gần 2 ngày đêm chiến đấu trong lòng địch, lực lượng của ta đã đánh lui 16 đợt phản kích quyết liệt của địch. Do lực lượng không cân sức, ta tạm thời rút về núi Cà Đú.

Để đập tan tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn của địch, mở đường tiến quân vào Sài Gòn, Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tư lệnh cánh quân Duyên Hải quyết định sử dụng Sư đoàn 3 (Quân khu 5), Trung đoàn 25 Tây Nguyên và Quân khu 6 tăng cường cho 2 đại đội đặc công và công binh, cùng với các lực lượng của Ninh Thuận chuẩn bị tấn công địch. Sáng 14-4-1975, tiếng pháo công kích của đại quân ta bắt đầu nổ, khói lửa trùm lên các điểm chốt của địch ở Bà Râu, Suối Đá, Kiền Kiền, Ba Tháp, Núi Đất, sân bay Thành Sơn... Đến 7 giờ cùng ngày, đợt hỏa lực cuối cùng vừa chấm dứt, các chiến sĩ của Sư đoàn 3 bộ binh tấn công chiếm Du Long và các vị trí Bà Râu, Suối Vang, Suối Đá... tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Trên đường 11, Trung đoàn 25 bộ binh, cùng lực lượng địa phương đánh chiếm một số mục tiêu ngoại vi sân bay và đẩy lùi cuộc phản kích của Lữ đoàn dù. Đến sáng 15-4-1975, sau nhiều đợt tấn công, quân ta đã đánh bật bọn địch ra khỏi Kiền Kiền, Ba Tháp...

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa nhớ lại: “Sáng 16-4-1975, từ núi Cà Đú, qua ống nhòm quan sát khu vực Hộ Diêm, tôi phát hiện một đoàn quân có xe tăng dẫn đầu đang tiến dọc Quốc lộ 1 hướng về Phan Rang. Với kinh nghiệm của người lính đặc công, đã được huấn luyện tác chiến với loại xe tăng này, tôi nhận định đó là lực lượng chủ lực của ta từ Nha Trang tiến vào. Ngay sau đó, tôi tập hợp lực lượng, chủ động bắt liên lạc và phối hợp với quân chủ lực tổ chức tiến công, đánh thốc vào sườn quân địch đang tháo chạy trên Quốc lộ 1; đồng thời làm nhiệm vụ dẫn đường để quân ta tiến đánh Phan Rang, sân bay Thành Sơn và cảng Ninh Chữ. Đúng 9 giờ 30 phút cùng ngày, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Tòa hành chính tỉnh Ninh Thuận, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền ngụy ở Ninh Thuận, quân ta làm chủ Phan Rang”.

Ông Nguyễn Văn Bé (bìa phải) trò chuyện với đại diện Hội Cựu chiến binh phường Đô Vinh và cán bộ Tổ dân phố 7 về căn cứ cách mạng xóm Dừa.

Ông Nguyễn Văn Bé (bìa phải) trò chuyện với đại diện Hội Cựu chiến binh phường Đô Vinh và cán bộ Tổ dân phố 7 về căn cứ cách mạng xóm Dừa.

Ngày 16-4-1975, Ninh Thuận hoàn toàn giải phóng, tuyến phòng thủ “lá chắn thép” ở Phan Rang bị đập tan đã tạo thế mở đường cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30-4-1975. Trong những ngày tháng Tư lịch sử, ông Nguyễn Văn Bé (phường Đô Vinh) - nguyên là du kích xóm Dừa, từng tham gia phối hợp với Đại đội Đặc công 311 tiến công khu vực Tháp Chàm vào đêm 7 và ngày 8-4-1975, sau đó rút về núi Cà Đú vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử ấy. Ông Bé kể: “Sáng 16-4-1975, tôi cùng các du kích xóm Dừa và các lực lượng từ núi Cà Đú về Phan Rang, rồi tiếp tục lên Tháp Chàm để tiếp quản, bảo vệ các điểm trọng yếu do quân chủ lực ta vừa chiếm giữ. Ngày hôm ấy, người dân Phan Rang - Tháp Chàm vỡ òa trong niềm vui, phấn khởi khi quê hương được giải phóng. Khắp các tuyến đường, đặc biệt là đường 21 tháng 8, người dân đứng kín hai bên, tay cầm cờ nồng nhiệt chào đón quân giải phóng...”.

Ký ức hào hùng của những ngày tháng Tư lịch sử sẽ mãi được khắc ghi, nhắc nhở mỗi chúng ta trân trọng hòa bình, tiếp nối truyền thống và nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

NINH ĐÔNG - LÂM ANH

Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/chinh-tri/202604/ky-niem-51-nam-giai-phong-tinh-khanh-hoa-4-1975-4-2026-nho-nhung-ngay-thang-tu-lich-su-1d85afe/