Kỷ niệm trong đời làm báo với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Tôi nhớ mãi đến nhiều năm sau cái tiếng cười rất hài hước mà ấm áp tình người của cụ Đồng khi thấy tôi bị lúng túng vì cái khóa cổ xe Honda. Tôi cũng luôn nhớ câu cụ nói với tôi và anh cảnh vệ: 'Thói quen tốt thì không bao giờ nên bỏ'...
Tôi nhớ mãi đến nhiều năm sau cái tiếng cười rất hài hước mà ấm áp tình người của cụ Đồng khi thấy tôi bị lúng túng vì cái khóa cổ xe Honda. Tôi cũng luôn nhớ câu cụ nói với tôi và anh cảnh vệ: “Thói quen tốt thì không bao giờ nên bỏ”...

Nhà văn, nhà báo Đào Quang Thép (1943-2018) nguyên là Tổng giám đốc, Tổng biên tập Đài Phát thanh- Truyền hình Hà Nội, Phó Giám đốc Hãng phim Hội nhà văn Việt Nam. Sau khi nghỉ hưu, trong 5 năm, từ năm 2003 tới 2008, anh được Giáo sư Đào Nguyên Cát, thời đó là Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam, trân trọng mời về cộng tác tại Tòa soạn Thời báo Kinh tế Việt Nam với vai trò biên tập viên cao cấp và cố vấn nội dung.
Tôi trân trọng nhắc anh Đào Quang Thép ngay ở phần mở đầu của bài viết này, là bởi câu chuyện tôi kể dưới đây có khởi nguồn và liên quan tới anh, khi anh vẫn còn đang công tác.
Vào một buổi trưa một ngày cuối Đông năm 1989, quãng gần 13h, anh Thép gọi điện thoại cho tôi, nhờ tôi sang cơ quan anh, giúp anh một việc rất đặc biệt.
Thuở ấy, trụ sở của Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội còn đóng ngay ở Bờ Hồ, số 47 Hàng Dầu, trông sang Đền Ngọc Sơn. Chiều hôm đó anh Thép được triệu tập dự một cuộc họp đột xuất với Thường vụ Thành ủy Hà Nội nên anh không thể vắng mặt, do đó anh Thép nhờ tôi thay anh tháp tùng một cộng tác viên của anh vào gặp nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, theo lịch đã hẹn với Cụ thông qua Trợ lý của Cụ.
Cộng tác viên của anh Thép là một vị Giáo sư, tiến sĩ dân tộc học, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và dân tộc học. Vị Giáo sư khi ấy đang giảng dạy và nghiên cứu tại một trường đại học ở miền Trung. Vị Giáo sư đó, thông qua mối quan hệ công việc của anh Thép, đã được cụ Phạm Văn Đồng cho phép gặp chiều hôm ấy để báo cáo một việc quan trọng. Anh Thép nói vắn tắt như vậy khi tôi đi xe máy đến đón vị Giáo sư tại cổng Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội.
BỨC THƯ CỦA THỦ TƯỚNG VÀ TỘC NGƯỜI RỤC
Đến Cổng Đỏ Phủ Chủ tịch (đầu đường Hoàng Hoa Thám), do đã được bộ phận thư ký của cụ Phạm Văn Đồng dặn trước, tổ cảnh vệ gác Cổng Đỏ và thường trực sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân của hai chúng tôi và kiểm tra an ninh, cái cặp to sụ của vị Giáo sư và cái cốp xe máy của tôi, đồng chí cảnh vệ rồi gọi điện cho Thư ký Cụ và mời chúng tôi đi vào.
Vào đến cửa biệt thự của cụ Phạm Văn Đồng đã thấy anh Nguyễn Tiến Năng, Trợ lý Thủ tướng, đứng đợi ở bậc thềm. Tôi dựng xe máy ngay bên thềm nhà, theo thói quen khóa cổ xe cẩn thận, còn lấy tay lắc lắc cái ghi đông xem khóa đã chắc ăn chưa, rồi mới cùng vị Giáo sư theo anh Năng vào phòng khách và ngồi uống trà đợi cụ Đồng.
Khoảng 10 phút sau thì Cụ đi từ gác 2 xuống. Cụ tự đi một mình xuống cầu thang không cần người dắt, nên tôi đoán hôm ấy mắt cụ ổn và sức khỏe tốt (từ giữa thập niên 80, cụ Đồng bị teo dây thần kinh đáy mắt nên thị lực rất kém).
Nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế vốn thiết kế dành riêng cho mình, không đợi anh Năng làm thủ tục giới thiệu, Cụ rất ân cần hỏi thăm hai chúng tôi và vào đề câu chuyện với vị Giáo sư luôn.
Còn 5 ngày nữa thì một hội nghị quốc tế về dân tộc học khai mạc tại Thụy Điển, vị Giáo sư này là đại diện Việt Nam, với tư cách như một nhà nghiên cứu dân tộc học, được mời tham dự. Ông muốn báo cáo với cụ Đồng về hội nghị này, về nội dung bản tham luận của ông tại hội nghị, đồng thời xin một chữ ký “tươi” của cụ vào bản sao bức thư đánh máy mà năm 1959 Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã gửi cho lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền và công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) Vĩnh Linh, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị).
Nội dung bức thư là Cụ đề nghị địa phương và lực lượng Công an vũ trang Vĩnh Linh, Quảng Bình cần chú ý công tác chăm sóc bộ tộc người Rục sống trong các hang đá trong rừng sâu thuộc huyện Minh Hóa, Quảng Bình. Các đơn vị công an vũ trang và chính quyền sở tại cần phải đưa họ ra hòa nhập cộng đồng, chấm dứt tình trạng du canh du cư và hôn nhân cận huyết để bảo tồn nòi giống.
Trong những năm đất nước đang rất nghèo đói và chiến tranh chia cắt 2 miền đất nước, miền Bắc đang phải vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa lo chi viện cho cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam, vậy mà vị Thủ tướng vẫn quan tâm đến chính sách dân tộc, đến một bộ tộc rất ít người này.
Đó là nội dung một trong các ý kiến vị Giáo sư sẽ phát biểu ở hội nghị, nhằm thể hiện với bạn bè và giới dân tộc học quốc tế sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam với vấn đề nhân chủng học, dân tộc học, vấn đề chăm sóc, bảo vệ, giúp đỡ các bộ tộc ít người, nhất là người Rục - một trong những bộ tộc kỳ lạ nhất thế giới còn tồn tại
Nội dung trình bày của vị Giáo sư với cụ Đồng là vậy. Chăm chú lắng nghe vị Giáo sư nói xong, cụ Đồng bảo anh Năng (trợ lý) đưa cái bút và vui vẻ ký ngay vào bản sao bức thư đã được đánh máy cẩn thận và kèm theo cả bản dịch tiếng Anh sau khi anh Năng đã đọc để Cụ duyệt nội dung.
TIẾNG “VÂNG” RẤT NHẸ VÀ NHỮNG GIỌT MỒ HÔI TRÊN TRÁN VỊ GIÁO SƯ
Khoác thêm chiếc áo ấm, cụ Đồng từ tốn hỏi vị Giáo sư: “Anh nghiên cứu về bộ tộc Rục lâu chưa? Anh có là người am hiểu nhất về bộ tộc ít người này ở nước ta không mà đại diện Việt Nam đi họp quốc tế?”.
Vị Giáo sư rất nhanh nhảu say sưa báo cáo rằng đã nghiên cứu về nhân chủng học, trong đó có bộ tộc Rục, cũng đã hơn 2 chục năm rồi. Chắc chắn ông ta là người am hiểu, nắm rõ nhất về bộ tộc này ở Việt Nam.
Cụ Đồng hỏi tiếp: “Thế sau hội nghị này về thì anh định làm gì với vấn đề người Rục?” Vị Giáo sư ngập ngừng mất vài giây rồi mới đáp lời: “Dạ, thưa Bác, cháu sẽ truyền đạt lại cho các nhà dân tộc học, nhân chủng học cả nước về nội dung hội nghị quốc tế này, cũng như bản tham luận của cháu tại hội nghị ạ. Sau đó, có thể cháu sẽ xin ra Hà Nội hoặc vào TP. Hồ Chí Minh để công tác ở một viện nghiên cứu hay trường đại học lớn nào đó, tiếp tục nghiên cứu đề tài người Rục cũng như một số bộ tộc ít người khác ở nước ta, cố gắng ứng dụng các nghiên cứu khoa học dân tộc học, nhân chủng học vào thực tế việc bảo vệ, chăm sóc, duy trì nòi giống bộ tộc Rục ít người nhất này của Việt Nam”.
Lắng nghe vị Giáo sư trình bày xong, rất trầm ngâm, cụ Đồng bảo: “Thế này nhé, anh cứ đi hội nghị cho thành công đi. Khi về nước gặp lại tôi, tôi sẽ viết một bức thư gửi Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình. Tôi sẽ đề nghị để họ tiếp nhận anh về tỉnh Quảng Bình công tác. Anh nói anh am hiểu người Rục nhất nước thì rất cần anh có mặt bên cạnh người Rục để cùng đảng bộ, chính quyền địa phương và quân dân Quảng Bình giúp người Rục mau chóng hòa nhập cộng đồng và có các biện pháp hữu hiệu tốt nhất để bảo tồn nòi giống cho bộ tộc ít người này...”.
Vị Giáo sư “vâng” rất nhẹ. Tôi có cảm giác tiếng “vâng” ấy như bay theo làn gió Đông cuối chiều đang thổi quanh ngôi nhà cụ Đồng và căn phòng khách cửa mở rộng lồng lộng gió. Trời đang lạnh run người, mà tôi thoáng thấy những giọt mồ hôi đang túa ra trên vầng trán hói đầy vẻ bác học của vị Giáo sư.
NỤ CƯỜI SẢNG KHOÁI VÀ LỜI CĂN DẶN CỦA THỦ TƯỚNG
Sau khoảng hơn nửa tiếng trò chuyện, anh Năng ra hiệu cho vị Giáo sư đã hết giờ gặp để cụ Đồng lên gác nghỉ ngơi. Hai chúng tôi đứng dậy kính cẩn chào Cụ, ra về. Vị Giáo sư bắt tay cụ Đồng và lập cập cám ơn, giọng run run chứ không vang dội như lúc trình bày kiến thức về người Rục với Cụ và cũng không sang sảng như lúc bi bô sau lưng tôi khi đi trên đường tới Phủ Thủ tướng.
Cụ Đồng cầm tay anh Năng thư ký dắt, ân cần tiễn hai chúng tôi ra tận bậc thềm và đứng nheo mắt nhìn theo đến khi tôi ra đến chỗ dựng xe máy ngoài sân.
Hai anh cảnh vệ vẫn đứng uy nghiêm như lúc chúng tôi đến. Tôi loay hoay mở khóa cổ xe máy. Không hiểu vì cảm động sau khi được gặp cụ Đồng, được bắt tay Cụ, hay tôi cảm động đến luống cuống bởi thấy cụ Đồng đang đứng nhìn theo, hay vì trời lạnh cóng tay, tôi mở mãi, mở mấy lượt mới được cái khóa cổ xe máy, đến bực và xấu hổ.
Anh cảnh vệ súng lục dường như có vẻ sốt ruột thay cho cụ Đồng và mọi người, bất chợt to giọng: “Cái anh này, vào nhà Thủ tướng, tầng tầng lớp lớp bảo vệ từ ngoài đường đến tận đây, an ninh dày đặc chặt chẽ thế này mà còn lo khóa cổ cái xe máy, dấm dớ thật...”.
Tôi bối rối ngượng ngùng, chưa biết giải thích sao với anh cảnh vệ. Bỗng nghe tiếng cụ Đồng nói rất to: “Không, không! Những thói quen tốt thì không bao giờ nên bỏ”. Tôi quay lưng lại, thấy Cụ đang xua xua tay với người cảnh vệ, rồi cụ cười khà khà với chúng tôi.
Trên đường về, tôi vừa lái xe máy vừa nghĩ, cụ Thủ tướng bận trăm công ngàn việc đại sự quốc gia mà vẫn rất sâu sát với đời sống nhân dân.
Tôi nhớ mãi đến nhiều năm sau cái tiếng cười rất hài hước mà ấm áp tình người của cụ Đồng khi thấy tôi bị lúng túng vì cái khóa cổ xe Honda. Tôi cũng luôn nhớ câu cụ nói với tôi và anh cảnh vệ: “Thói quen tốt thì không bao giờ nên bỏ”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 23 + 24-2026 phát hành ngày 15/06/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-2324-2026.html

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/ky-niem-trong-doi-lam-bao-voi-co-thu-tuong-pham-van-dong.htm












