Kỳ thú chuyện biển
Trong suốt những năm tháng gắn bó đời mình với biển cả, nhiều ngư dân đã lưu giữ cho mình những 'ngón nghề' đánh bắt thủy sản độc đáo, mang đậm dấu ấn nghề biển.
“Ngón nghề” đánh bắt thủy sản vùng khơi
Ngư dân Bùi Đình Chiến ở thôn Hải Lộc, xã Cửa Việt cho biết, hiện nay các tàu đánh bắt xa bờ đã trang bị nhiều máy móc, thiết bị hiện đại để dò cá, xác định vị trí trên biển. Nhưng nhiều ngư dân vẫn duy trì cách lấy tên của ngư dân để đặt cho các rạn đá dưới biển có trữ lượng cá lớn nhằm định vị khu vực khai thác. Đơn cử như ở ngư trường Cồn Cỏ, khi ngư dân A hoặc ngư dân B đánh bắt được mẻ cá bò, cá bè hay các loại cá khác với sản lượng từ vài tạ đến vài tấn, thì tại vị trí đó sẽ được đặt tên là “rạn đá ông A” hoặc “rạn đá ông B”.
Trong những chuyến ra khơi đánh bắt thủy sản ở ngư trường Cồn Cỏ, khi ngư dân liên lạc với nhau qua hệ thống bộ đàm, chỉ cần thông báo với nhau là hiện ở “rạn đá ông A” hoặc “rạn đá ông B” đang đánh bắt được mẻ cá lớn. Lập tức, các tàu gần khu vực ấy sẽ biết vị trí chính xác để nhanh chóng tiếp cận khu vực khai thác mà không cần dò tìm lại bằng thiết bị định vị.

Các thuyền đánh cá của ngư dân xã Cửa Việt chuẩn bị ra khơi - Ảnh: S.H
Rồi trong nghề lưới vây rút chì, kinh nghiệm xác định được đàn cá ngủ hay thức luôn là yếu tố quan trọng quyết định sản lượng của mẻ lưới. Sở dĩ nói là cần đến kinh nghiệm, bởi khi điều khiển tàu cá chạy trên biển và bật máy dò để tìm đàn cá, khi phát hiện đàn cá, ngư dân có kinh nghiệm sẽ biết được đàn cá ngủ hay thức.
Đàn cá thức sẽ di chuyển linh hoạt, còn đàn cá ngủ sẽ di chuyển chậm hơn. Biết đàn cá ngủ hay thức là để lựa chọn phương án thả lưới vây rút chì phù hợp để vây gọn đàn cá. Nếu đàn cá thức thì thả lưới vây rút chì đón đầu ở cự ly xa và ngược lại. Những kinh nghiệm “đọc” hướng di chuyển của đàn cá ngủ hay thức trên màn hình máy dò ngang, dò dọc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sản lượng mỗi mẻ lưới.
Ngư dân Bùi Đình Thủy ở thôn 4, xã Cửa Việt kể rằng, chỉ cần quan sát một khúc gỗ mục (dài khoảng 3-7m) đang lập lờ trôi trên mặt biển, ông có thể phán đoán được loài cá cũng như trữ lượng cá đang tụ tập dưới bóng khúc gỗ để lựa chọn loại lưới và phương thức câu phù hợp nhất. Những kinh nghiệm này đến nay vẫn được nhiều ngư dân áp dụng hiệu quả trong thực tiễn khai thác thủy sản.
Cứ khoảng từ tháng 2 đến tháng 9 hằng năm, khi nước biển trở nên trong xanh, yên ả, cũng là lúc nhiều khúc gỗ từ núi, rừng bị nước lũ cuốn trôi xuôi về theo các con sông bắt đầu ngấm nước đến mục ruỗng. Đây là môi trường lý tưởng để nhiều loại rong, tảo biển bám vào và sinh sôi, nảy nở, khiến các đàn cá nhỏ bị thu hút. Theo sau đàn cá nhỏ là từng đàn cá lớn như cá bớp, cá cam, cá xanh, cá chim đen, cá bè vàng... đến săn mồi.
Mỗi mùa đi biển, ngư dân nào may mắn sẽ gặp được 5-7 khúc gỗ mục. Với những ngư dân có kinh nghiệm, nhìn màu nước biển là có thể xác định được loài cá cũng như trữ lượng cá bên dưới. Thông thường, dưới khúc gỗ mục bao giờ cũng có ít nhất vài tạ cá bớp, cá cam, cá xanh, cá chim đen, cá bè vàng..., nhiều nhất thì lên đến vài tấn cá.
Nghề biển lâu đời ở vùng lộng
Gặp ngư dân Hồ Sĩ Dưỡng ở thôn Đông Luật, xã Vĩnh Hoàng khi ông vừa trở về sau chuyến ra khơi. Ông chia sẻ nhiều kinh nghiệm thú vị về nghề biển đã có từ hàng trăm năm của người dân ở đây, và đến nay vẫn mang lại hiệu quả trong đánh bắt thủy sản vùng lộng. Ví như nghề thả lừ bóng đánh bắt mực lá, mực nang. Ngày xưa, ngư dân muốn làm nghề này phải cất công đi mua tre về ngâm nước, rồi phơi thật khô để chống mối mọt.
Sau đó, tre được chẻ thành từng đoạn dài bằng ngón tay cái để chuẩn bị cho việc làm lừ bóng. Chiếc lừ bóng có dạng hình hộp chữ nhật, kích thước dài 1,2m và rộng 0,6m; khung lừ bóng được làm bằng tre. Bao phủ xung quanh lừ bóng là một lớp lưới với mắt lưới có kích thước khoảng 2cm. Ngư dân dùng lá cây đùng đình phơi khô phủ lên mặt trên chiếc lừ bóng để tạo vùng tối. Chùm trứng mực lá màu trắng được gắn ở bên trong lừ bóng. Khi đến kỳ đẻ trứng, mực lá bị thu hút bởi trứng ở bên trong lừ bóng nên chui vào đẻ và bị mắc bẫy.

Ngư dân xã Cửa Việt chuẩn bị ngư lưới cụ để ra khơi bám biển - Ảnh: S.H
Hiện nay, lừ bóng đã được cải tiến bằng việc thay lá đùng đình bằng lá cây giả hoặc sợi nilon màu đen phủ lên trên. Lừ bóng cũng được mở rộng, có nơi dài tới khoảng 5 hải lý để tăng hiệu quả khai thác. Nghề đặt lừ bóng tuy vất vả, nhưng có thể mang lại thu nhập từ 200-300 triệu đồng/năm.
Rồi nghề thả lưới lội đánh bắt cá thủ, vược, sủ, chét… với trọng lượng từ 5-15kg chỉ cách bờ khoảng vài chục mét. Muốn đánh bắt được các loại cá có trọng lượng lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang thường chọn mua các loại sợi gấc to bằng que tăm rồi tự tay đan lưới. Lưới lội có chiều dài khoảng 15m, rộng 2m và mắt lưới lớn bằng 3 ngón tay chụm lại.
Để đánh bắt được cá thủ, vược, sủ, chét…, đòi hỏi ngư dân phải dày dặn kinh nghiệm, chọn đúng khu vực có dòng hải lưu nhỏ tạo thành vũng nước xoáy gần bờ để thả lưới. Sau khi chọn được vị trí phù hợp, tấm lưới lội sẽ được thả xuống biển và được neo bằng sợi dây dài từ 70m-80m vào chiếc cọc đóng cố định trên bờ. Các loài cá này thường di chuyển theo dòng hải lưu nhỏ vào gần bờ kiếm ăn và bị giữ lại trong vũng xoáy có lưới giăng sẵn. Cứ khoảng 2-3 ngày, ngư dân kéo lưới lên kiểm tra.
Lão ngư Trần Khương Hạp (70 tuổi) ở thôn 6, xã Triệu Cơ cho rằng, dù đánh bắt thủy sản ở vùng khơi hay vùng lộng, những kinh nghiệm nghề biển truyền thống vẫn rất cần thiết và hữu ích trong bối cảnh các phương tiện khai thác thủy, hải sản ngày càng hiện đại hóa.
Ở các làng biển, hiện nay vẫn còn nhiều ngư dân nắm giữ những “ngón nghề” đánh bắt thủy sản ở vùng lộng, vùng khơi. Những kinh nghiệm lâu đời đã và đang được ngư dân lưu giữ và truyền nối qua nhiều thế hệ, góp phần duy trì nghề biển và nâng cao hiệu quả mỗi chuyến vươn khơi.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/phong-su-ky-su/202606/ky-thu-chuyen-bien-b3377b3/











