Ký ức 'tọa độ lửa' Đồng Lộc
Gần 60 năm kể từ ngày 10 nữ thanh niên xung phong hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc, bà Lê Thị Hồng vẫn đều đặn trở lại bên đồng đội. Trước mười phần mộ, ký ức về 'tọa độ lửa' năm xưa cùng nỗi day dứt về món quà vót từ thân cau rừng chưa kịp trao vẫn còn vẹn nguyên.
Bó đũa chưa kịp trao
Trưa tháng Bảy, nắng vàng trải nhẹ trên những triền đồi ở Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc. Giữa rừng thông, mười phần mộ của 10 nữ Anh hùng liệt sĩ thanh niên xung phong phủ kín những bông cúc trắng. Chậm rãi bước đến khu mộ của đồng đội, cựu thanh niên xung phong Lê Thị Hồng (77 tuổi, quê gốc huyện Đức Thọ cũ, nay sinh sống tại Nghệ An) dừng lại lâu nhất trước phần mộ liệt sĩ Hà Thị Xanh. “Xanh hiền lắm. Cùng quê Đức Thọ nên hai chị em thân thiết với nhau, cùng ngủ chung một giường, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Khi ấy tiểu đội có 16- 17 chị em, bom đạn và máy bay quần thảo trên đầu, nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện sống hay chết...”, bà Hồng nhớ lại.

Toàn cảnh Ngã ba Đồng Lộc
Hơn ba mươi năm nay, cứ đến ngày 24/7, những người còn sống lại tìm về Ngã ba Đồng Lộc để dự ngày giỗ của 10 nữ Anh hùng liệt sĩ thanh niên xung phong. “Từ năm 1995, khi Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc được xây dựng, năm nào chúng tôi cũng về đây dự lễ giỗ của các chị. Cứ đến tháng Bảy là lòng lại bồi hồi, rưng rưng nhớ đồng đội. Mỗi năm lại có thêm một người vắng, nhưng chưa năm nào tôi quên ngày trở về...”, bà Hồng tâm sự.
Năm 1967, ở tuổi 19, cô gái Lê Thị Hồng tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, được biên chế về Tiểu đội 4 (A4), Đại đội 552, Tổng đội 55. Tiểu đội khi ấy quy tụ những nữ thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ, ngày đêm làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại các “tuyến lửa”. Trong tiểu đội, cô gái Hồng có vóc người cao lớn, khỏe mạnh, quen việc đồng áng và chặt cây từ nhỏ. Vì vậy, giữa năm 1968, đơn vị giao bà cùng một số nữ thanh niên xung phong vào khu vực đường 21 Quảng Bình (nay là Quảng Trị) khai thác gỗ, sau đó vận chuyển về Đồng Lộc để phục vụ các công trình bảo đảm giao thông.
Nữ cựu thanh niên xung phong nhớ lại, ngày đó lấy gỗ giữa đại ngàn Trường Sơn, công việc cũng chẳng hề nhẹ nhõm. Mưa rừng trút xuống suốt ngày, vắt bám kín ống chân, muỗi rừng đặc quánh trong những căn lán dựng tạm. “Khi làm nhiệm vụ chặt gỗ, chỉ mong đủ khối lượng để về đơn vị, phần vì lo, phần vì nhớ các chị em trong tiểu đội đang làm nhiệm vụ ở Đồng Lộc”, bà Hồng nhớ lại.
“Chúng tôi còn sống thì còn về với các chị. Sau này không còn đi được nữa thì chỉ mong thế hệ trẻ vẫn nhớ đến Đồng Lộc, nhớ đến những người đã nằm lại ở đây...” Bà Nguyễn Thị Hợi
Những ngày tháng 7 năm 1968, tại Đồng Lộc vẫn oằn mình dưới những trận đánh phá liên tiếp của không quân Mỹ. Mặt đường vừa san lấp xong lại bị bom cày xới. Những nữ thanh niên xung phong gần như không có một đêm trọn giấc, hết đào hầm trú ẩn lại lao ra vá đường, giữ cho mạch máu giao thông không bị chia cắt. Còn ở cánh rừng ven đường 21, bà Hồng cùng đồng đội vẫn chờ chuyến xe cuối vào nhận gỗ để về Ngã ba Đồng Lộc. Trước khi rời khu rừng Quảng Bình, cô gái Hồng còn tỉ mẩn vót một bó đũa từ thân cau Nàng rung để mang về tặng mỗi chị em trong tiểu đội một đôi để dùng.
Thế nhưng, vừa đặt chân về Đồng Lộc, nữ thanh niên xung phong đã sững sờ khi một đồng đội hớt hải chạy tới, nghẹn giọng: “Hồng ơi, tiểu đội mi trúng bom rồi!”. Tin dữ như rút cạn sức lực của cô gái tuổi mười chín. Cô gái Hồng ôm chặt chiếc ba lô vẫn còn nguyên bó đũa dành tặng đồng đội, cắm đầu chạy về phía đơn vị. Tuy nhiên, trước mắt chỉ còn một khoảng đất đá ngổn ngang vừa bị bom cày xới.
Quyết tâm bám đường
Sau sự hy sinh của 10 nữ thanh niên xung phong, đơn vị được bổ sung lực lượng, kiện toàn đội hình để tiếp tục bám trụ nơi “tọa độ lửa” Đồng Lộc. Trong đội hình mới ấy có những gương mặt vừa được điều động đến, có cả những người đã gắn bó với đơn vị từ trước. Bà Nguyễn Thị Hợi (78 tuổi, xã Đức Thọ) được giao đảm nhận cương vị Tiểu đội trưởng; còn bà Lê Thị Hồng nhận nhiệm vụ Tiểu đội phó.
“Ngày đó, dù vừa trải qua mất mát quá lớn, chúng tôi chỉ có một suy nghĩ là phải tiếp tục bám đường để những chuyến xe chở hàng, chở vũ khí kịp chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhận nhiệm vụ mới, tôi cùng chị em lao ngay vào công việc, ai cũng muốn góp một phần sức lực để giữ cho mạch máu giao thông không bị gián đoạn”, bà Hợi nhớ lại.

Cựu thanh niên xung phong Lê Thị Hồng, Nguyễn Thị Hợi trong ngày trở lại chiến trường xưa
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi lần trở lại Ngã ba Đồng Lộc, bà Nguyễn Thị Hợi vẫn không giấu được xúc động. Bởi nơi bình yên hôm nay từng là “tọa độ lửa”, bị bom đạn cày xới ngày đêm và cũng là nơi bà cùng đồng đội đã gửi trọn tuổi xuân. “Đồng Lộc ngày ấy khắc nghiệt lắm. Mùa nắng thì bụi đất đỏ phủ kín từ tóc đến quần áo, mùa mưa đường nhão nhoét, đi một bước là lún một bước. Có những thời điểm máy bay quần đảo suốt ngày, bom vừa dứt là chị em lại lao ra mặt đường. Sống chết ngày đó không hề nghĩ tới”, bà Hợi chậm rãi kể lại.
Trong giai đoạn 1964-1972, Ngã ba Đồng Lộc liên tục hứng chịu các đợt đánh phá của không quân Mỹ, riêng từ tháng 4 đến tháng 10/1968 phải oằn mình dưới gần 50.000 quả bom các loại, bình quân mỗi mét vuông đất gánh hơn 3 quả bom…
Với bà Hợi, ký ức về Đồng Lộc không chỉ có tiếng bom rền, khói lửa mà còn đọng lại tiếng cười, tiếng hát của những cô gái tuổi đôi mươi. “Ngày đó, chị em hay động viên nhau rằng: “Bom rơi chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết. Cứ bám đường mà làm thôi”. Ai cũng mang trong mình tinh thần, khí thế quyết tâm lắm”, bà Hợi nhớ lại.
Chính sự lạc quan ấy đã giúp những cô gái thanh niên xung phong bước qua nỗi sợ, để sau mỗi trận bom lại lao ra san lấp hố bom, mở đường cho những đoàn xe chi viện vào miền Nam ruột thịt. Có những đêm, tiếng cuốc bổ xuống mặt đường hòa cùng tiếng hát. Mỗi khi một đoàn xe vượt qua trọng điểm an toàn, cả tiểu đội lại đứng nhìn theo, vỗ tay reo mừng.
Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/ky-uc-toa-do-lua-dong-loc-post1863065.tpo











