Đi qua chiến tranh bằng tình yêu - Bài 2: Hạnh phúc riêng chờ sau nhiệm vụ

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những lá thư, bức ảnh phai màu thời gian vẫn lưu giữ nguyên vẹn ký ức về những tình yêu thủy chung - nơi mỗi người biết chờ nhau bằng niềm tin và luôn đặt Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng.

Lá thư thay lời hẹn giữa Trường Sơn

Trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, nhiều nữ thanh niên xung phong, nữ chiến sĩ trên tuyến đường Trường Sơn tự hứa với lòng "3 khoan": khoan yêu, khoan lấy chồng, khoan sinh con... Dù thế, những con tim vẫn không thôi thổn thức, những câu chuyện tình vẫn bồi hồi nơi đáy lòng và âm thầm băng qua chiến tranh.

Bà Bùi Thị Vân (phường Định Công, TP Hà Nội) cẩn thận mở chiếc hộp cũ, lấy ra xấp thư đã ố vàng. Bà cười: “Hồi đó, tôi biết là ông ấy viết nhưng cứ vờ như không”. Đằng sau những lá thư ấy là cả một quãng đời tuổi trẻ giữa Trường Sơn. Cô gái gốc Kinh Bắc trốn gia đình đi thanh niên xung phong khi mới 16 tuổi; ba năm sau trở thành một trong 45 nữ lái xe của Đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh, Binh trạm 12. Người nhỏ con, cô ngồi lọt thỏm trong buồng lái. Phải gấp chăn làm đệm ngồi cho cao, kê thêm can xăng phía sau lưng mới với tới vô lăng. Chiến trường cũng rèn cho những cô gái trẻ bản lĩnh không thua cánh lái xe nam: tự chui xuống gầm sửa xe; dùng miệng hút xăng từ thùng phuy để dẫn qua vòi, nhiều lần nuốt cả xăng vào bụng. Có những đêm một mình giữa đại ngàn, “bom thì quen rồi nhưng rừng đêm vắng quá, lại thấy sợ”, bà Vân cười nhớ lại.

 Nữ lái xe Trường Sơn Bùi Thị Vân trên chiếc xe GAZ. Ảnh: NVCC

Nữ lái xe Trường Sơn Bùi Thị Vân trên chiếc xe GAZ. Ảnh: NVCC

Ngày đó, mỗi chuyến xe là một lần đánh cược với cái chết. Trước mỗi chuyến hành quân, các cô gái đều gửi lại kỷ vật, viết thư tuyệt mệnh, ký vào sổ truyền thống của đơn vị. Không phải ai cũng trở về. Có lần, chiếc xe trong tiểu đội trúng bom, người bạn thân của bà Vân hy sinh. “Chúng tôi ôm nhau khóc nhưng bánh xe thì không thể dừng”, bà rưng rưng nhớ lại.

Một lần, bà Vân cõng ông Nguyễn Trần Đừng - một thương binh nặng - lên xe đưa về trạm điều dưỡng. Ông Đừng đem lòng cảm mến nhưng không dám ngỏ lời, chỉ lặng lẽ viết thư rồi ký bằng một cái tên khác. Mãi đến lần gặp lại, ông mới đánh bạo hỏi: “Em có nhận được những lá thư bạn anh viết cho em không?”. Bà cười: “Không”. Thấy ông lúng túng, bà trêu: “Anh bảo với bạn anh rằng nếu yêu mà không dám nói thì tôi sắp xây dựng gia đình rồi”. Lúc đó, ông mới thú nhận những lá thư ấy đều do mình viết.

Sau khi vết thương lành, chiều nào ông Đừng cũng đạp xe sang đơn vị của bà Vân. Có hôm mưa rất to, đi công tác về, bà thấy ông đứng lặng ngoài cổng, không dám bước vào vì biết bà vẫn đang... “khoan yêu”. Cứ vậy tới khi chiến tranh đi đến chặng cuối, bà Vân mới nhận lời và họ nên duyên. Ngày rời quân ngũ, bà xin đơn vị cho mang bộ đồ nghề sửa xe đã theo mình suốt những năm tháng ở Trường Sơn về làm kỷ niệm.

Chồng mất đã mười năm, nhưng những lá thư của ông vẫn nằm lặng lẽ trong chiếc hộp nhỏ, bên cạnh bộ đồ nghề sửa xe cũ kỹ - những kỷ vật vô giá vẫn được bà Vân nâng niu, gìn giữ mỗi ngày.

Ngày đó, mỗi chuyến xe là một lần đánh cược với cái chết. Trước mỗi chuyến hành quân, các cô gái đều gửi lại kỷ vật, viết thư tuyệt mệnh, ký vào sổ truyền thống của đơn vị. Không phải ai cũng trở về.

Bức ảnh cưới kể chuyện một thời "3 khoan"

Dọc tuyến đường Trường Sơn ngày ấy, “3 khoan” trở thành quy ước bất thành văn của chị em ở nhiều đơn vị nữ thanh niên xung phong và bộ đội. Những mối tình vẫn nảy nở giữa bom đạn, những lá thư vẫn vượt rừng tìm đến nhau nhưng hạnh phúc riêng luôn chờ sau nhiệm vụ.

Bà Trần Thị Thanh Kiêm (xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên) lấy bức ảnh đen trắng treo trên bức tường phòng khách xuống. Mặt sau bức ảnh là mấy dòng thơ đã nhòe mực. Bà cười: “Đây là tôi... và đây cũng là ảnh cưới của vợ chồng tôi”. Hình cưới nhưng được chụp trước ngày cưới gần một năm. Khi ấy, bên bờ sông Sê Pôn (Quảng Trị), một phóng viên chiến trường vô tình bắt gặp hai nữ chiến sĩ Trung đoàn Đường ống Xăng dầu 592 đang trên đường vận chuyển vật tư và đã kịp ghi lại khoảnh khắc này.

Ông bà đã đi qua những năm tháng mà hòa bình ngỡ như đã rất gần. Ngày 28-1-1973, Hiệp định Paris vừa có hiệu lực, ở nhiều nơi, người ta bắt đầu nói đến hòa bình, đến ngày trở về. Trên tuyến đường Trường Sơn, đơn vị của bà Kiêm cũng chuẩn bị đón một cái tết với nhiều hy vọng sau những năm dài bom đạn. Đúng lúc ấy, máy bay địch trút bom xuống nơi đơn vị làm nhiệm vụ. Gần 20 cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Nỗi đau nhắc những người lính trẻ rằng, trên tuyến lửa, hòa bình chỉ có thể tính bằng từng cung đường được giữ thông, từng dòng nhiên liệu chảy về tiền tuyến. Khi việc nước còn dang dở, mọi dự định riêng đều phải lùi lại.

Hai năm trước đó, cô gái 18 tuổi quê lúa Thái Bình đặt chân đến Trường Sơn. Sáu nữ chiến sĩ đi tắm suối trở về thì gặp một tốp bộ đội. Mấy cô gái đi trước khẽ cúi đầu chào, riêng cô gái nhỏ nhất cất tiếng rõ ràng: “Em chào các anh. Các anh đi làm về ạ?”. Tiếng chào ấy khiến anh lính Trịnh Trung Tích nhớ mãi. Sau này ông bảo, giữa núi rừng chỉ quen với tiếng máy nổ, tiếng bom và sự im ắng của rừng, lời chào trong trẻo của cô gái mới vào đơn vị khiến ông xao động. Ít ngày sau, đơn vị tổ chức buổi gặp gỡ giữa lính cũ và nữ chiến sĩ mới để tặng áo may ô cho chị em sửa lại mặc và tặng gà giống để tăng gia. Hôm ấy, ông Tích tặng bà Kiêm một đôi gà mái.

Bà Kiêm hát hay. Ông Tích biết làm thơ, mê văn nghệ. Họ thường đứng cùng nhau trong những đêm giao lưu của đơn vị sau giờ làm nhiệm vụ. Tình cảm nảy nở giữa tiếng đàn, tiếng hát nhưng chưa bao giờ tách khỏi kỷ luật cũng như quy ước “3 khoan” của những người lính. Ông bà cùng nhẩm tính: Gần 5 năm yêu nhau, thời gian thực sự ở cạnh nhau chỉ chừng vài tháng. Quãng còn lại được nối bằng hơn 200 lá thư gửi qua những cung đường Trường Sơn. Có lá thư kể chuyện đơn vị vừa nối thêm một đoạn đường ống, có lá thư chép vài câu thơ, cũng có lá thư chỉ để báo rằng người viết vẫn bình an.

Những lá thư cũ, những tấm ảnh bạc màu không chỉ là kỷ vật gắn với hai mối tình mà còn là chứng nhân của một thế hệ sẵn sàng gác lại hạnh phúc riêng để giữ trọn lời thề với Tổ quốc. Thời gian có thể khiến giấy úa, ảnh mờ nhưng không thể làm phai nhạt những giá trị của lòng yêu nước, đức hy sinh và sự thủy chung.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Trịnh Trung Tích và bà Trần Thị Thanh Kiêm đến gặp Trung đoàn trưởng xin phép tổ chức đám cưới. Khi chia tay đơn vị, Phó ban Chính trị Trung đoàn trao cho họ tấm hình cắt từ Báo Trường Sơn và nói: “Để góp vào ảnh cưới”. Vậy là bức ảnh ghi lại cảnh bà Kiêm cùng đồng đội làm nhiệm vụ giữa Trường Sơn trở thành kỷ vật đặc biệt nhất của ngày nên duyên. Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh ấy vẫn được treo trang trọng trong ngôi nhà nhỏ của ông bà.

NGỌC MINH TÂM

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/di-qua-chien-tranh-bang-tinh-yeu-bai-2-hanh-phuc-rieng-cho-sau-nhiem-vu-post864323.html