Ký ức về chùa Dâu
- Vào mỗi buổi sáng mùa hè, khi bình minh thức dậy, ánh sáng phủ kín đất trời, người hoạ sĩ khoan thai đứng trước sân đón bình minh với một tâm trạng an nhiên như thường nhật. Riêng hôm nay, ông thấy trong lòng bâng khuâng đến lạ, những ký ức về một thời xa xưa hiện về choán ngợp tâm hồn. Hình ảnh ngôi chùa Dâu hiện lên trong ký ức khiến ông nao lòng. Ngôi chùa hiện diện trên vùng đất Kinh Bắc - nơi không chỉ nổi tiếng với những làn điệu Quan họ ngọt ngào mà còn được biết đến là vùng đất lưu giữ nhiều di tích lịch sử lâu đời của dân tộc. Trong số đó, chùa Dâu là một công trình tiêu biểu mang đậm dấu ấn văn hoá và tâm linh của người Việt cổ. Với lịch sử gần hai nghìn năm, chùa Dâu được xem là trung tâm Phật giáo cổ nhất Việt Nam và là niềm tự hào của người dân vùng Kinh Bắc.

Chùa Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (cũ), tỉnh Bắc Ninh, nay là phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh là ngôi chùa cổ kính, linh thiêng, gắn liền với quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ thế kỷ thứ II, sau công nguyên, dưới thời Sĩ Nhiếp cai quản Giao Châu. Chùa mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc nghệ thuật. Với vai trò là trung tâm Phật giáo cổ đại vùng Luy Lâu, chùa là một danh lam bậc nhất của xứ Kinh Bắc xưa nay. Chùa Dâu có giá trị to lớn về lịch sử văn hóa và giáo dục truyền thống của dân tộc Việt Nam hôm nay và cả mai sau.
Chùa Dâu toạ lạc tại vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Nơi đây, có năm ngôi chùa cổ: Chùa Dâu thờ Pháp Vân (thần mây), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (thần mưa), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (thần sấm), chùa Dàn thờ Pháp Điện (thần chớp) và chùa Tổ thờ Man Nương, là mẹ của Tứ Pháp. Năm ngôi chùa này ngoài thờ Phật, còn thờ Tứ Pháp. Trong Tứ Pháp thì Pháp Vân đứng đầu, nơi kết hợp hài hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thể hiện khát vọng mưa thuận, gió hòa của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Chùa Dâu trong tâm hồn người Việt Nam, là cái nôi văn hóa, Phật giáo cổ xưa, là điểm đến tâm linh quen thuộc của người dân vùng Kinh Bắc và du khách thập phương. Ca dao có câu" Dù ai đi đâu về đâu/Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về/Dù ai buôn bán trăm nghề/Nhớ ngày mồng Tám thì về hội Dâu". Lễ hội chùa Dâu được khai mở vào ngày mồng Tám tháng Tư âm lịch hằng năm, thu hút đông đảo Nhân dân vùng Kinh Bắc và du khách thập phương đến chiêm bái, lễ phật - cầu an.
Thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân vùng Dâu luôn đoàn kết, kề vai sát cánh, phát huy tinh thần yêu nước quật cường, xây dựng làng chiến đấu, bảo vệ cơ sở cách mạng và đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Trong hành trình đó, tiêu biểu thời chống Pháp, có đội nữ du kích của Làng Dâu.
Ngày đơn vị đóng quân tại làng quê này, đội du kích nữ gồm những người con gái chân quê, mộc mạc và xuân sắc.Tiểu đội trưởng với cái tên khai sinh là Ngọc, nhưng để mệnh danh cho chiến tích một thời đánh giặc, toàn tiểu đội đã đặt tên cho chị là Ngọc Nữ và từ đó, tên chị được gọi cho cái tên chung của tiểu đội. Thời kỳ khói lửa đó, trải qua bao lần phối hợp chiến đấu giữa bộ đội với du kích, tiểu đội trưởng Ngọc Nữ là một trong số các nữ du kích gan dạ, tháo vát và mưu trí, luôn được dân làng Dâu yêu quý, các đội viên tin tưởng và mến mộ, đơn vị Vệ quốc đoàn đang đứng chân trên địa bàn tin cậy. Hai đơn vị đã có nhiều cuộc chiến đấu kiên cường, đẩy lùi các cuộc càn quét của quân giặc, bảo vệ làng Dâu. Những đêm giao lưu văn nghệ, tiếng hát của Ngọc Nữ trong như tiếng chim rừng và đằm sâu trong trái tim anh chiến sĩ Vệ quốc đoàn.
Ngày chia tay đơn vị lên đường chiến đấu, trước sân chùa náo nức, anh đã kịp nắm tay Ngọc Nữ và hứa hẹn ngày chiến thắng sẽ trở về... Bịn rịn trong nỗi nhớ, niềm thương, Ngọc Nữ chỉ kịp đưa tặng anh một tấm khăn hồng có thêu hai chữ " Thủy chung". Anh tặng chị bức kí họa chân dung của chị bằng mực bút chì, bức kí họa nổi bật bóng hình người con gái có mái tóc dài như dòng suối và nụ cười duyên, đôi má lúm đồng tiền. Ngọc Nữ đã nâng niu bức kí hoạ đó như báu vật. Những ngày xa nhau, thi thoảng chị lại mang chiếc ống tre gài trên mái rạ xuống mở lấy bức kí họa ra ngắm nhìn và nâng niu kỷ vật ấy trong lòng.
Trong những ngày ly loạn, làng Dâu chìm trong khói lửa. Bao trận chống giặc càn đầy cam go, khốc liệt. Sau một trận chiến đấu anh dũng trở về, từ đáy sâu của tâm hồn, chị đã viết mấy dòng thơ sau bức kí hoạ đầy cảm xúc " Làng em có suối ngọt, vườn thơm/Ngời sắc xuân một thời con gái/Nơi rực đỏ biết bao mùa vải/Ai bâng khuâng, xao xuyến đợi chờ...". Rồi trong một trận chống giặc càn, tiểu đội du kích của Ngọc Nữ đã chiến đấu ngoan cường và khi chặn giặc để đơn vị rút bảo toàn lực lượng, Ngọc Nữ đã anh dũng hy sinh trước cổng chùa Dâu. Khi đó, anh chiến sĩ Vệ quốc đoàn đang ở chiến trường xa, nào đâu hay biết!.
Từ trong khói lửa của cuộc trường chinh cứu nước, anh luôn canh cánh bên lòng về làng kháng chiến và nỗi nhớ người con gái làng Dâu. Song vì nhiệm vụ chiến đấu, anh đã đi suốt dặm dài của cuộc kháng chiến chống Pháp, chưa có dịp trở về.
Người chiến sĩ Vệ quốc đoàn năm ấy, khi trải qua cuộc trường chinh chiến thắng trở về quê hương, anh lập gia đình với người con gái đã tự nguyện thay anh chăm sóc cha mẹ già khi anh còn trong quân ngũ. Rồi người bạn đời này lâm bệnh trọng và ra đi, bỏ lại anh và hai người con gái hiền lành, hiếu thảo.
Cuộc đời anh như trải qua dông bão, cứ cuốn hút anh theo niềm đam mê nghề mỹ thuật, nên anh chưa có dịp trở lại vùng quê năm xưa nơi đóng quân. Anh mải mê thả tâm hồn và trí lực theo nghề hoạ sĩ, cùng bao cuộc viễn du, bao cuộc hành trình khám phá cái đẹp và những đổi thay của các miền quê đất nước.
Bốn mươi năm sau, khi mái tóc đã ánh màu cước, trước một cuộc triển lãm tranh có tầm cỡ, người bạn nữ thuở học trò đến nhắc nhở chuẩn bị tác phẩm để dự thi, ông mới chợt bật ra trong ký ức về làng kháng chiến năm xưa và người nữ du kích tại chùa Dâu.
Thời gian chẳng còn bao lâu để đưa "Đứa con tình thần" đến triển lãm. Và rồi như một sức hút mạnh mẽ " về chùa Dâu - nơi ghi dấu bao kỷ niệm đẹp về một thời chiến đấu chống Pháp", thế là ông vội khăn gói lên đường về với miền quê xa hứa đó...
Cổng làng xưa mới xây, mái còn tươi màu ngói đỏ. Ông thong thả bước trên con đường làng rải bê tông hướng về ngôi chùa cổ.
Người hoạ sĩ bước đi lặng lẽ, tiếng mõ cầu siêu vang vọng không gian. Khi vào tới sân chùa, mùi hương trầm, mùi hoa ngâu, hoa cau hoà quyện thơm ngát. Ông bâng khuâng đứng lặng trước bức tượng với ghi danh người nữ du kích của làng, mang nét đẹp đặc trưng của người con gái Kinh Bắc, kể từ thần sắc đến trang phục.
Đứng trước hình Ngọc Nữ, ông hoạ sĩ thấy sao thân thương, gần gũi như bóng dáng người xưa, khiến ông thêm bùi ngùi, xúc động. Nhìn thấy ông đứng bần thần, một thầy tiểu ra chào ông và nói nhỏ "Mô phật, hôm nay là ngày kỵ, một nữ du kích bảo vệ làng và đã anh dũng hy sinh trước cổng chùa thời chống Pháp". Ông ngậm ngùi chắp tay trước ngực vái bức tượng và hai hàng lệ tuôn trào.
Từ trong tâm khảm, người hoạ sĩ lầm rầm khấn: "Có phải hình Ngọc Nữ không em?/Anh về đây nơi chốn thân quen/Muôn ngàn lần mong em lượng thứ/Vẫn biết rằng anh là lãng tử/Đã chóng quên lời hứa năm nào/Ngày chia tay lời hẹn ước trao/Mà anh thì cứ đi như thế/Đã một thời cùng hiến dâng tuổi trẻ/Cho quê hương, đất nước hoà bình/Anh đi nhiều nơi đã chiến đấu quên mình/Không một chút màng công danh quyền quý/Nay về đây nơi em yên nghỉ/Tấm lòng này xin tạ lỗi cùng em/Anh biết rằng đã có bao đêm/Em thức giấc nỗi cô đơn ùa đến/Em thân thiêng nơi vĩnh hằng thương mến/Hãy cho anh bằng ngòi bút lặng thầm/Phác hoạ nét chân dung người thiếu nữ..."
Người hoạ sĩ đã tâm tình với tất cả nỗi niềm xao xuyến và cảm phục về sự hy sinh cao cả của người con gái mà ông đã gặp trong thời kỳ chống giặc Pháp gian khổ nhất. Và rồi, tất cả niềm thương cùng nỗi nhớ được ông thể hiện bằng những nét đầu tiên trên giá vẽ.
Ông đã truyền tất cả yêu thương và sinh lực sang bức tranh. Bóng hình Ngọc Nữ hiển hiện tươi trẻ, đoan trang. Ông khẽ khàng áp lên má bức hoạ với nồng nàn hơi ấm và có lẽ trong hành trình khám phá cuộc đời, đây là dấu ấn sâu nặng nhất để người hoạ sĩ dồn mọi tâm huyết cho cái nghề mà ông trọn đời theo đuổi. Và bức hoạ này, ông đang vẽ từ dòng máu của con tim, mặt vải loang màu mực thấm... bóng hình người thiếu nữ đã hiện lên trong tâm thức ông với tất cả nét đẹp lung linh, huyền diệu, ngời sáng mãi tới muôn đời sau.
Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/ky-uc-ve-chua-dau-5101773.html
