Ký ức về ngày Tết Độc lập 1975 và bước chân diễu binh, diễu hành trên Quảng trường Ba Đình lịch sử
Chứng kiến các buổi sơ duyệt, tổng duyệt chuẩn bị cho lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, với các khối quân, binh chủng cùng khí thế hào hùng trên quảng trường Ba Đình và các ngả đường Thủ đô Hà Nội, ký ức về ngày Tết Độc lập 2/9/1975 lại ùa về trong tôi.

PGS.TS Trần Đăng Sinh.
Tôi sinh ra ở xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên trong cảnh đất nước chiến tranh, tôi đã trải qua những năm tháng vừa học tập, lao động và sẵn sàng chiến đấu trước sự phá hoại của không quân Mỹ.
Năm 1971, tốt nghiệp trường cấp III Minh Khai, tôi đăng ký thi vào Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và may mắn đỗ vào khoa Lịch sử, nơi có các người thầy nổi tiếng như: Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng…
Năm 1972, hưởng ứng lời kêu gọi thanh niên lên đường nhập ngũ, tôi cùng nhiều sinh viên các trường đại học xếp bút nghiên vào Nam chiến đấu chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc.
Cuối tháng 3/1975, tôi cùng một số cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 126 Đặc công nước, trên đường đi giải phóng các đảo, được lệnh trở ra Bắc, tập luyện diễu binh mừng ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chúng tôi được biên chế vào khối đi chiến sĩ. Sự tập luyện rất vất vả thì không cần phải nói. Đối với quân nhân nam vất vả một, thì đối với quân nhân nữ, sự vất vả gian khổ phải gấp nhiều lần.
Tôi còn nhớ hình ảnh một số chiến sĩ, đi chân đất từ đường băng về nơi trú quân, trên cổ đeo lủng lẳng đôi giày da Liên Xô vì chân bỏng rát. Các chiến sĩ nữ vẫn phải tập trong những ngày lẽ ra phải được nghỉ. Tuy nhiên, gian khổ vất vả bao nhiêu thì vinh dự và trách nhiệm bấy nhiêu.
Ngày 29/8/1975, tôi và các đồng đội được vào lăng viếng Bác. Trên quảng trường Ba Đình lịch sử này, lòng tôi bồi hồi xúc động bởi 30 năm trước, trước quốc dân đồng bào, Bác đã đọc "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Khối chiến sĩ đặc công diễu binh qua Quảng trường Ba Đình năm 1975. Ảnh: Tư liệu
Đúng 5 giờ sáng ngày 2/9/1975, chúng tôi tập kết ở đầu đường Hùng Vương, phía Hồ Tây. Áo yếm lính thủy trắng, quần xanh màu nước biển, dưới ánh sáng đèn cao áp, nhiều chiến sĩ hồi hộp đến nỗi không ăn được nắm xôi và thịt nướng do nhà bếp chuẩn bị. Khi tiến vào lễ đài, khẩu lệnh của khối trưởng: "Nhìn bên phải - Chào!" chúng tôi đánh mặt, nhìn bên phải, trên khán đài thoáng thấy bác Tôn Đức Thắng, bác Lê Duẩn, bác Phạm Văn Đồng…
Đoàn diễu binh qua các phố Điện Biên Phủ, Hàng Trống… rồi về tập trung ở công viên Thống Nhất. Hai bên đường, nhân dân phấn khích hô: "Giậm chân đi". Khối trưởng lại hô khẩu lệnh để chuyển từ tư thế vác súng đi đều, sang tư thế giương súng đi nghiêm. Tiếng reo hò, cổ vũ của đồng bào càng thôi thúc bước chân của chiến sĩ.

PGS.TS Trần Đăng Sinh (ngồi bên trái) cùng đồng đội trong buổi gặp mặt kỷ niệm 47 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 2022. Ảnh: nhân vật cung cấp
Các đồng đội tham gia diễu binh năm ấy trong khối đi chiến sĩ Hải quân có ông Cao Quý Toàn quê ở chợ Cồn, ông Khính ở huyện Hải Hậu, Nam Định, ông Thảo ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, ông Ngô Xuân Dương ở huyện Thọ Xuân, Thnh Hóa. Còn nhiều đồng đội nữa mà đến nay tôi không nhớ được tên, địa chỉ.
Tôi được biết ở làng Tây Mỗ quê tôi, có ông Cường (xóm Hạnh) cùng tham gia trong khối đi chiến sĩ của Sư đoàn 308 - Đại đoàn quân Tiên phong, ông Nguyễn Đình Luận (xóm Dộc), khối đi trường Sĩ quan Công binh.
Mới đó mà đã 50 năm...
Ngày 2/9 năm nay, chúng tôi lại được chứng kiến những bước chân của những đoàn quân trên Quảng trường Ba Đình lịch sử. Thật là: "Lớp cha trước, lớp con sau/ Anh em, đồng chí chung câu quân hành".
Từ bước chân vào 5 cửa ô của đoàn quân về giải phóng Thủ đô năm 1954, "bước chân trên dải Trường Sơn" đến bước chân trên Quảng trường Ba Đình năm nay là thanh âm của mạch nguồn lịch sử làm nên sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.
PGS.TS Trần Đăng Sinh, sinh năm 1954 ở phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Năm 1972, ông là sinh viên năm thứ nhất, khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Năm 1982, ông ra quân, về học tiếp ở khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa 27. Năm 1984 ông được Nhà nước cử đi học ngành Triết học, trường Đại học Tổng hợp Kiev, nhận bằng cử nhân Triết học năm 1990. Năm 2001, ông được nhận học vị Tiến sĩ Triết học ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Năm 2009, ông được phong hàm Phó Giáo sư Triết học.