Lại đánh tráo bản chất, quy kết sai trái về tự do tôn giáo

Bổn cũ soạn lại, một số tổ chức khoác danh nhân quyền cùng sự hỗ trợ của cơ quan truyền thông nước ngoài đã đưa ra những nhận định phiến diện, sai lệch về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, đánh tráo bản chất, sử dụng một số vụ việc riêng lẻ để phủ nhận những nỗ lực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

1. Gần đây, ngày 7/10/2026, RFA Tiếng Việt đăng bài viết “Tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục gây quan ngại”, dẫn lại nhận định của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ về những diễn biến liên quan đến hoạt động tôn giáo tại Việt Nam. Bài viết đề cập các cáo buộc về việc gia tăng kiểm soát hành chính đối với tổ chức, cá nhân tôn giáo và những trường hợp mà nguồn tin cho rằng bị gây sức ép khi tham gia các cộng đồng tôn giáo độc lập.

Trong bài viết có đề cập nội dung sai trái như: “Tại báo cáo mới nhất vào tháng Chín mới đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) ghi nhận điều kiện tự do tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục bị suy giảm nghiêm trọng. Theo đó, trong nửa đầu năm 2026, chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam đã triển khai hàng loạt các văn bản pháp lý sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường kiểm soát hành chính đối với các tổ chức, đại diện và hoạt động tôn giáo. Các đợt trấn áp đối với các cộng đồng tôn giáo độc lập vẫn tiếp tục gia tăng ở nhiều địa phương…”.

Cảnh giác các thông tin sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Cảnh giác các thông tin sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Những nhận định trên là sai trái khi cho rằng các điều kiện tự do tôn giáo tại Việt Nam “suy giảm nghiêm trọng”, tương tự là cáo buộc chính quyền triển khai các văn bản pháp lý nhằm “tăng cường kiểm soát”. Thực tế, đánh giá các văn bản pháp lý về hoạt động tôn giáo cần được đối chiếu với nội dung cụ thể của từng thể loại, mục tiêu điều chỉnh, phạm vi áp dụng và tác động thực tế đối với việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đáng chú ý, việc sử dụng cụm từ “các đợt trấn áp đối với các cộng đồng tôn giáo độc lập vẫn tiếp tục gia tăng ở nhiều địa phương” là một cáo buộc sai trái nghiêm trọng, không hề có bằng chứng xác đáng. Để chứng minh xu hướng “gia tăng”, cần xác định rõ số lượng vụ việc, thời gian thống kê, địa bàn xảy ra, tính chất từng vụ việc và cơ sở so sánh với giai đoạn trước. Đồng thời, phải phân biệt giữa hoạt động quản lý nhà nước theo quy định pháp luật với việc xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tại khóa họp thứ 62, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ ngày 15/6 đến 8/7/2026, tổ chức International Christian Concern (ICC - trụ sở tại Mỹ) tiếp tục công bố báo cáo, đánh giá "Việt Nam còn nhiều hạn chế về tự do tôn giáo". Báo cáo này cho rằng, các tín đồ Thiên chúa giáo tại Việt Nam “vẫn phải đối mặt với các biện pháp truy tố và giam giữ do tham gia các nhóm tôn giáo không được chính quyền công nhận”; vu cáo “cộng đồng người Thượng ở Tây Nguyên thường bị ép phải hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ do Nhà nước Việt Nam cho phép”; đưa ra đánh giá “tình trạng đàn áp người theo đạo Thiên chúa tại Việt Nam”... Tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) có trụ sở tại Mỹ, đăng bài xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2026 của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/1/2027), cho rằng Luật Tín ngưỡng Tôn giáo mới sẽ “đe dọa nghiêm trọng các tổ chức tôn giáo”.

Điều đáng chú ý là những luận điệu kiểu này không mới mà chỉ là sự sao chép sáo rỗng “văn mẫu”. Trước đó, trong báo cáo thường niên về tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2026 (công bố nhân khóa họp thứ 61, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, họp từ ngày 23/2 đến 31/3/2026), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ cũng dựa vào những nguồn thông tin thiếu kiểm chứng, mang tính định kiến, áp đặt để đánh giá rằng tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam “tiếp tục yếu kém”, đồng thời khuyến nghị Quốc hội và Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” (CPC).

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhiều lần nêu rõ, Việt Nam khẳng định chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013, trong hệ thống pháp luật của Việt Nam và được tôn trọng trên thực tế. Công dân Việt Nam không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Bà Phạm Thu Hằng cho biết, Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi với phía Hoa Kỳ về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững giữa hai nước.

Theo Hiến pháp năm 2013, tại Điều 24, quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018, quy định quyền của cá nhân trong việc bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, tham gia lễ hội, học tập giáo lý; quy định quyền hoạt động, tổ chức sinh hoạt, đào tạo, xuất bản kinh sách và xây dựng cơ sở tôn giáo theo quy định pháp luật. Luật cũng xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo hộ cơ sở, tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo.

Tại văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tư duy của Đảng về công tác tôn giáo thể hiện tính bao dung hơn nhưng cũng thực tế và chặt chẽ hơn. Trong đó khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc; bổ sung việc tôn trọng quyền “không tín ngưỡng, tôn giáo” của người dân. Xác định đoàn kết tôn giáo là yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Theo số liệu thống kê, trước năm 1990, Việt Nam có 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận. Đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo; với trên 27,7 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số), trên 61.000 chức sắc, gần 145.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Những con số này phản ánh quy mô đáng kể của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội Việt Nam, dù bản thân số lượng tổ chức được công nhận hay đăng ký không thể là thước đo duy nhất để kết luận về mức độ bảo đảm quyền tự do tôn giáo trên thực tế.

Bên cạnh hệ thống pháp luật, đời sống tôn giáo tại Việt Nam còn thể hiện qua sự hiện diện của nhiều tôn giáo, hệ phái và hình thức tín ngưỡng truyền thống. Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo cùng các hình thức tín ngưỡng dân gian tồn tại trong một không gian văn hóa đa dạng. Nhiều chức sắc, chức việc và tín đồ tích cực tham gia hoạt động từ thiện, chăm sóc người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường và xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng.

2. Mỗi cá nhân, tổ chức cần nâng cao cảnh giác với những chiêu trò truyền thông “bẩn” của các thế lực thù địch, trong đó cần cảnh giác với thủ đoạn đánh tráo bản chất vụ việc, đồng nhất việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với việc ngăn cấm một tôn giáo. Muốn xác định một biện pháp xử lý có vi phạm quyền tự do tôn giáo hay không, phải xem xét hành vi bị xử lý, căn cứ pháp lý, chứng cứ, trình tự và tính tương xứng của biện pháp đó. Không thể chỉ căn cứ vào việc người bị xử lý có niềm tin tôn giáo, có theo tôn giáo nào để rồi kết luận họ bị xử lý vì hoạt động tôn giáo.

Một số thông tin có thể khai thác khác biệt về dân tộc, ngôn ngữ, phong tục và tín ngưỡng để khoét sâu tâm lý mặc cảm, tạo ra sự đối lập giữa các cộng đồng hoặc giữa người dân với chính quyền. Khi một sự việc chưa được xác minh bị diễn giải thành bằng chứng về sự phân biệt đối xử có hệ thống, thông tin sai lệch có thể lan truyền, gây ảnh hưởng đến đoàn kết cộng đồng. Do đó, cần nhận diện việc lợi dụng niềm tin tôn giáo để lôi kéo, kích động, truyền bá thông tin sai sự thật hoặc huy động người dân tham gia những hoạt động trái pháp luật.

Không thể lấy những nhận định mang tính áp đặt, những thông tin thiếu đối chiếu, kiểm chứng của các tổ chức nước ngoài làm thước đo để đánh giá tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Mọi cáo buộc về tình trạng “trấn áp”, “đàn áp có hệ thống” cần phải được chứng minh bằng những vụ việc cụ thể, chứng cứ xác thực và căn cứ pháp lý rõ ràng chứ không thể dựa trên thông tin một chiều, phiến diện để quy kết về tình hình tự do tôn giáo của cả một quốc gia. Việt Nam nhất quán tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Cao Thiên – Thanh Tùng

Nguồn CAND: https://cand.vn/lai-danh-trao-ban-chat-quy-ket-sai-trai-ve-tu-do-ton-giao-post825874.html