Lại nóng câu chuyện an toàn thực phẩm

Liên tiếp các vụ thực phẩm bẩn bị phát hiện gần đây, từ chả giò, pate làm từ thịt lợn nhiễm dịch tả, giá đỗ tẩm hóa chất, dầu giả đến khoảng 800 tấn mì tươi trộn hàn the đang gióng lên hồi chuông báo động về an toàn thực phẩm, đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm quản lý, hiệu lực giám sát và cơ chế bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Nhiều vụ việc nghiêm trọng liên quan đến an toàn thực phẩm trong thời gian qua

Nhiều vụ việc nghiêm trọng liên quan đến an toàn thực phẩm trong thời gian qua

Vụ việc Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long sử dụng thịt lợn dương tính với virus dịch tả châu Phi để chế biến thực phẩm không chỉ cho thấy sai phạm nghiêm trọng của một doanh nghiệp có thương hiệu lâu năm, mà còn bộc lộ những bất cập trong kiểm soát thú y và quản lý an toàn thực phẩm, nhất là trong bối cảnh thị trường thực phẩm chế biến ngày càng mở rộng.

Một điểm đáng chú ý là cơ chế hậu kiểm trong quản lý an toàn thực phẩm. Theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, đối với nhóm thực phẩm chế biến, bao gói sẵn, doanh nghiệp được phép tự công bố và đưa sản phẩm lưu thông, còn cơ quan quản lý tập trung vào hậu kiểm, thanh tra và xử phạt khi phát hiện vi phạm.

Tuy nhiên, vụ việc tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long cho thấy khâu này vẫn chưa đủ chặt chẽ, dễ để lọt rủi ro nếu việc kiểm tra không bám sát thực tế sản xuất và nguồn gốc nguyên liệu. Thực tế cho thấy hoạt động hậu kiểm còn nặng về thủ tục, thiên về kiểm tra hồ sơ, giấy tờ. Khi doanh nghiệp xuất trình đủ tài liệu hợp lệ, quá trình kiểm tra thường khép lại, trong khi các yếu tố cốt lõi như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế hay tính trung thực của nội dung tự công bố chưa được xem xét tương xứng.

Điều này tạo ra nghịch lý doanh nghiệp có thể “đạt chuẩn trên giấy”, nhưng rủi ro ngoài thực tế vẫn âm thầm tích tụ và chỉ bộc lộ khi sản phẩm đã được phân phối rộng rãi. Đáng chú ý, uy tín và thâm niên của một số doanh nghiệp đôi khi tạo tâm lý chủ quan, khiến họ được xếp vào nhóm “nguy cơ thấp”, tần suất kiểm tra giảm, dẫn tới khoảng trống trong giám sát ngay cả với những thương hiệu quen thuộc.

Bên cạnh đó, chuyên gia cho rằng sự phân tán và chồng chéo trong thẩm quyền quản lý cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm hiện được phân công cho 3 cơ quan là Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, cơ chế thanh tra, kiểm tra chủ yếu vẫn thực hiện theo kế hoạch định kỳ, thiếu tính đột xuất nên dễ bị các đối tượng đối phó. Quy trình giám sát lỏng lẻo tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng cho thấy công tác thực thi pháp luật chưa đi sâu vào thực chất, chưa tạo đủ áp lực buộc các chủ thể kinh doanh tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Trong bối cảnh những lỗ hổng của cơ chế hậu kiểm ngày càng bộc lộ rõ, yêu cầu rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đang trở nên cấp thiết. Trước những vấn đề nổi cộm liên quan an toàn thực phẩm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 14/NQ-CP, đề nghị bổ sung dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn để bịt các “khoảng trống” quản lý và tăng hiệu lực bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Ông Chu Quốc Thịnh, Quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết, Luật sửa đổi lần này đã dành riêng một chương cho công tác hậu kiểm. Đây là bước thay đổi quan trọng nhằm thống nhất các quy định hiện đang rải rác ở nhiều văn bản khác nhau.

“Công tác hậu kiểm thực phẩm rất quan trọng và là mô hình quản lý mà nhiều quốc gia áp dụng, tiêu biểu như Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Hiện, công tác hậu kiểm đang được quy định ở các điều khoản khác nhau của các văn bản pháp luật. Vì vậy, dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi sẽ hệ thống hóa trong một chương liên quan công tác hậu kiểm, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hiệu quả thực thi”, đại diện Bộ Y tế nhấn mạnh.

Cùng với đó, nhóm chính sách về hệ thống kiểm soát chất lượng, đặc biệt từ quy trình sản xuất đến lưu thông, phân phối sản phẩm cũng bổ sung, gia cố nhằm nâng cao hệ thống thử nghiệm, đồng thời xem xét quy trình và đưa ra kết luận sản phẩm đạt hay kém chất lượng cũng như việc thực hiện thu hồi sản phẩm kém chất lượng một cách nhanh và kịp thời.

Các chuyên gia đều đồng thuận rằng, chỉ khi hậu kiểm được thực hiện một cách thực chất, thường xuyên, dựa trên công nghệ truy xuất nguồn gốc, chế tài đủ mạnh và trách nhiệm cá nhân rõ ràng, “vùng an toàn” cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý mới bị xóa bỏ.

Hồng Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/lai-nong-cau-chuyen-an-toan-thuc-pham-176868.html