Lãi suất 1% thúc đẩy cơn sốt nhà đất
Lãi suất quỹ liên bang xuống 1% mở ra thời kỳ tiền rẻ tại Mỹ, trong lúc lạm phát thấp khiến những rủi ro trên thị trường tín dụng, nhà ở ít được chú ý.

Tác giả: Edward Chancellor / AlphaBooks - NXB Tri Thức
Lược sử lãi suất
Cuốn sách của Edward Chancellor khảo cứu 5.000 năm lịch sử vay mượn, từ thế giới cổ đại tới các cuộc khủng hoảng hiện đại. Cuốn sách lý giải vai trò của lãi suất trong phân bổ vốn, định giá rủi ro, đồng thời phân tích những hệ quả khi lãi suất bị duy trì ở mức quá thấp.
Lãi suất 1% thúc đẩy cơn sốt nhà đất
Lãi suất quỹ liên bang xuống 1% mở ra thời kỳ tiền rẻ tại Mỹ, trong lúc lạm phát thấp khiến những rủi ro trên thị trường tín dụng, nhà ở ít được chú ý.
Mùa xuân năm 2003, lãi suất quỹ liên bang được hạ xuống còn 1 phần trăm, và duy trì ở mức này hơn một năm. Trong năm năm tiếp theo, lãi suất chính sách của Fed luôn thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Kỷ nguyên tiền rẻ đã thực sự bắt đầu.
Cùng lúc đó, lạm phát vẫn được kiểm soát. Trên khắp thế giới phát triển, các thống đốc ngân hàng trung ương đều đạt được các mục tiêu lạm phát mà mình đặt ra. Các nhà kinh tế học gọi giai đoạn lạm phát thấp và những đợt suy thoái nhẹ vào đầu thập niên 2000 là “Thời kỳ Đại Ổn định”, một giai đoạn ổn định hiếm có mà họ cho là kết quả của những cải thiện trong hoạch định chính sách tiền tệ.
Các ngân hàng trung ương khó có lý do để phản bác nhận định ấy. Tại Vương quốc Anh, Ngân hàng Anh còn đặt ra một từ viết tắt, NICE (non-inflationary consistent expansion – phát triển ổn định mà không gây lạm phát), để mô tả bối cảnh kinh tế lý tưởng này. Bộ trưởng Tài chính Anh, Gordon Brown, tuyên bố rằng chu kỳ bùng nổ rồi suy thoái đã chấm dứt.

Lãi suất quỹ liên bang xuống 1% mở ra thời kỳ tiền rẻ tại Mỹ. Ảnh minh họa.
Năm 2004, Greenspan tự tin khẳng định “chiến lược xử lý hậu quả của bong bóng thay vì ngăn chặn chính bong bóng đó của chúng tôi đã thành công”. Bernanke ca ngợi sự phục hồi “mạnh mẽ” và có khả năng “tự duy trì” ở Mỹ.
Lặp lại cách hành xử của Fed dưới thời Ben Strong vào giữa thập niên 1920, các nhà hoạch định chính sách ngân hàng trung ương Mỹ ít quan tâm đến tăng trưởng tín dụng nhanh chóng hay sự suy giảm chất lượng tín dụng. Không có nỗ lực nào được thực hiện để kiềm chế các bong bóng bất động sản đang xuất hiện trên khắp đất nước.
Khi Greenspan sắp nghỉ hưu vào đầu năm 2006, ông thừa nhận muộn màng rằng một số thị trường nhà ở khu vực có vẻ “sôi sục”, và ngậm ngùi nhận ra rằng kỷ nguyên ổn định trước đó đã kết thúc không mấy vui vẻ. Thống đốc Bernanke vẫn giữ vững niềm tin, khi vài tháng trước đó ông nói với Quốc hội rằng giá nhà tăng ở Mỹ “chủ yếu phản ánh những nền tảng vững mạnh của nền kinh tế”.
Nền tảng vững mạnh không phải là vấn đề cốt lõi. Các ghi chép cho thấy Fed đã sử dụng quyền lực đáng kể của mình để thúc đẩy thị trường nhà ở. Tại phiên điều trần trước quốc hội vào tháng 11 năm 2002, Greenspan thừa nhận rằng chính sách lãi suất thấp của Fed đã thúc đẩy doanh số bán nhà và hoạt động xây dựng nhà ở.
Chủ tịch Fed cho biết, “thị trường cho vay thế chấp cũng đã trở thành một lực lượng bình ổn mạnh mẽ… bằng cách tạo điều kiện cho các chủ nhà rút một phần vốn chủ sở hữu mà họ đã tích lũy được”.
Trên thực tế, trong mười năm trước cuộc khủng hoảng năm 2008, người Mỹ đã rút tổng cộng 9 nghìn tỷ đô la từ giá trị vốn chủ sở hữu nhà. Việc rút vốn chủ sở hữu thế chấp (mortgage equity withdrawal) nghe có vẻ khá vô hại, nhưng thực tế đây là một cách gọi mỹ miều để chỉ việc các hộ gia đình rơi vào tình trạng vay nợ nhiều hơn. Nói thẳng ra, tại cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) ngày 14 tháng 3 năm 2
Không một đồng nghiệp nào của Kohn có mặt tại cuộc họp, kể cả Greenspan và Bernanke, phản đối ý kiến này.
Nguồn Znews: https://znews.vn/lai-suat-1-thuc-day-con-sot-nha-dat-post1687582.html

