Ngân hàng giảm lãi suất: Chia áp lực để 'gồng' giá cổ phiếu, lợi nhuận
Các ngân hàng phải giảm ngay lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm và lãi suất cho vay 1,5-2%/năm. Động thái này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng cũng đặt ra bài toán về lợi nhuận và chất lượng tài sản của ngành ngân hàng.
Cổ phiếu ngân hàng chịu áp lực
Nhiều cổ phiếu ngân hàng giảm giá trong phiên giao dịch ngày 19/10, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm ngay lãi suất huy động và cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ.
Kết phiên, cổ phiếu ACB giảm 350 đồng xuống 20.250 đồng/cp; BIDV (BID) giảm 300 đồng xuống 33.650 đồng/cp; MBBank (MBB) giảm 150 đồng xuống 19.700 đồng/cp. Vietcombank (VCB) mất 700 đồng, còn 56.200 đồng/cp; VietinBank (CTG) giảm 600 đồng xuống 30.000 đồng/cp. VPBank (VPB) giảm 500 đồng xuống 24.000 đồng/cp. SSB và SHB lần lượt giảm 200 đồng và 100 đồng/cổ phiếu.
Đáng chú ý, khối ngoại bán ròng hàng triệu cổ phiếu tại nhiều ngân hàng, trong đó có ACB, BID, CTG, HDB, SHB và VCB, tạo thêm sức ép lên diễn biến giá.
Trong khi đó, một số cổ phiếu thuộc nhóm tiêu dùng, bán lẻ và chứng khoán như MSN, MWG, SSI và TCX tăng giá. Diễn biến này cho thấy thị trường có sự phân hóa giữa các nhóm ngành, song chưa đủ cơ sở để kết luận việc giảm lãi suất là nguyên nhân trực tiếp khiến các cổ phiếu này tăng giá.
Diễn biến trên diễn ra sau khi NHNN ban hành văn bản ngày 18/10, yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; đồng thời giảm lãi suất cho vay, tập trung mức 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Tại cuộc họp ngày 19/10, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giảm lãi suất ngay, đồng thời đề nghị các ngân hàng cân đối lại kế hoạch lợi nhuận, dành nguồn lực hỗ trợ cả khách hàng hiện hữu và khách hàng vay mới.
Theo Thống đốc, việc ngân hàng công bố lợi nhuận tăng cao trong khi doanh nghiệp vẫn phải chịu lãi vay lớn có thể tạo cảm nhận rằng hệ thống ngân hàng đang hưởng lợi trên khó khăn của doanh nghiệp.

Áp lực tỷ giá cũng là một vấn đề khi giảm lãi suất VND. Ảnh: HH
Lợi nhuận ngân hàng đối mặt sức ép, triển vọng phân hóa
Về lý thuyết, giảm lãi suất huy động giúp hạ chi phí đầu vào, còn giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bài toán không đơn giản khi chi phí vốn của các ngân hàng vừa trải qua giai đoạn tăng lên, trong khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao.
Tính đến cuối tuần trước, huy động vốn tăng 11,22%, thấp hơn mức tăng tín dụng 11,44%. Chênh lệch này cho thấy tín dụng đang tăng nhanh hơn tiền gửi, tạo thêm áp lực cân đối nguồn vốn cho các ngân hàng, trong khi việc huy động tiền gửi vẫn gặp áp lực.
Bên cạnh đó, lãi suất huy động đã tăng đáng kể trong năm 2026. Theo số liệu được dẫn từ SSI Research, đến tháng 9, lãi suất huy động tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước lên khoảng 8,3%/năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu ở mức 8,8-9,4%/năm, còn một số ngân hàng quy mô nhỏ lên 9,8-10%/năm.
Nếu lãi suất cho vay giảm nhanh hơn chi phí huy động, biên lãi thuần (NIM) sẽ chịu sức ép. Đây là một trong những yếu tố có thể khiến lợi nhuận ngân hàng tăng chậm lại, nhất là tại các nhà băng phải cạnh tranh quyết liệt để duy trì nguồn tiền gửi.
Theo SSI Research, NIM toàn ngành có thể giảm nhẹ 2 điểm cơ bản xuống 3,11% trong năm 2027. Trong đó, NIM của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến tăng 2 điểm cơ bản, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 8 điểm cơ bản.
Chứng khoán Thiên Việt (TVS) cũng nhận định, cổ phiếu ngân hàng có thể phân hóa mạnh hơn Tăng trưởng tín dụng vẫn là động lực hỗ trợ kết quả kinh doanh năm 2026, nhưng chi phí vốn tăng, NIM khó cải thiện và rủi ro nợ xấu có thể khiến lợi nhuận ngành giảm tốc từ năm 2027. Chi phí dự phòng có khả năng thể hiện rõ hơn trong giai đoạn 2027-2028, sau thời kỳ tín dụng tăng nhanh.
Một vấn đề khác là khả năng giảm lãi suất huy động trên thực tế. Khi lãi suất niêm yết bị yêu cầu điều chỉnh giảm, các ngân hàng vẫn có thể chịu áp lực giữ chân người gửi tiền thông qua chương trình cộng thêm lãi suất, quà tặng, chứng chỉ tiền gửi hoặc thỏa thuận riêng đối với khoản tiền gửi lớn. Nếu những hình thức này tiếp tục phổ biến, mức giảm lãi suất thực tế có thể không đồng đều giữa các ngân hàng và nhóm khách hàng.
Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết khó khăn lớn nhất của ngành hiện nay là giảm lãi suất huy động. Ông khẳng định các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thương mại nhà nước, sẵn sàng giảm lợi nhuận để hỗ trợ doanh nghiệp; đồng thời nhấn mạnh việc giảm lãi suất cần thực chất, không đi kèm các điều kiện thủ tục hành chính.
Khả năng thực hiện yêu cầu này còn chịu tác động từ môi trường vĩ mô. CPI tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 4,52%, trong khi giá dầu thế giới ở mức cao làm gia tăng nguy cơ lạm phát. Nếu lãi suất trong nước giảm trong khi lãi suất quốc tế neo cao, áp lực tỷ giá cũng có thể quay trở lại.
Về chất lượng tín dụng, yêu cầu giảm lãi suất không đồng nghĩa với việc hạ chuẩn cho vay. Các ngân hàng vẫn cần kiểm soát rủi ro, thẩm định tài sản bảo đảm, phân loại nợ và trích lập dự phòng theo quy định. Do đó, doanh nghiệp nhỏ và khách hàng mới chưa có lịch sử tín dụng tốt hay tài sản bảo đảm phù hợp, có thể gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn.
Ở chiều tích cực, nếu giảm lãi suất giúp doanh nghiệp phục hồi, dòng tiền cải thiện và khả năng trả nợ tốt hơn, chất lượng tài sản của ngân hàng có thể được cải thiện trong dài hạn. Tuy nhiên, lợi ích này cần thời gian để phản ánh vào kết quả kinh doanh, trong khi sức ép lên NIM và chi phí vốn có thể xuất hiện sớm hơn.
Vì vậy, triển vọng cổ phiếu ngân hàng sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát chi phí huy động, duy trì nguồn vốn ổn định và chất lượng tín dụng của từng nhà băng. Các ngân hàng có lợi thế về tiền gửi không kỳ hạn (CASA), nguồn vốn chi phí thấp và khả năng quản trị rủi ro tốt có thể chống chịu tốt hơn. Ngược lại, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn huy động lãi suất cao có nguy cơ chịu sức ép lớn hơn lên biên lợi nhuận trong thời gian tới.
