Lãi suất tăng, doanh nghiệp bảo hiểm hưởng lợi nhưng không dễ thở
Lãi suất cao giúp doanh nghiệp bảo hiểm gia tăng thu nhập đầu tư, nhưng đồng thời tạo sức ép lên hoạt động kinh doanh cốt lõi, đặc biệt với nhóm bảo hiểm nhân thọ.

Lãi suất cao vừa là cơ hội, vừa là thách thức với ngành bảo hiểm. Ảnh: AI.
Phân hoá lợi ích
Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi tại một số ngân hàng có xu hướng tăng, thậm chí xuất hiện những mức ưu đãi trên 9%/năm, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội gia tăng thu nhập từ lượng tiền gửi lớn tại hệ thống ngân hàng. Với không ít doanh nghiệp, nguồn thu này còn trở thành động lực quan trọng, góp phần cải thiện kết quả kinh doanh.
Tuy nhiên, có sự khác biệt rất rõ rệt giữa các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong việc hưởng lợi từ mặt bằng lãi suất cao.
Với nhóm bảo hiểm nhân thọ, danh mục đầu tư thường có tỷ trọng dài hạn lớn, bao gồm trái phiếu và các tài sản tài chính khác. Vì vậy, biến động lãi suất tiền gửi không tác động đồng đều và tức thời đến toàn bộ danh mục.
Điển hình là Bảo Việt Nhân Thọ, tính đến giữa năm 2026, quy mô đầu tư tài chính đạt 273.624 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chiếm tới 92,3%, tương ứng 252.675 tỷ đồng. Trong đầu tư dài hạn, có 220.155 tỷ đồng được đầu tư ủy thác tại Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF), phân bổ vào trái phiếu (gần 112.600 tỷ đồng) và tiền gửi có kỳ hạn (hơn 104.765 tỷ đồng).
Tương tự, tại Prudential Việt Nam, tổng quy mô đầu tư tài chính đạt 182.223 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chiếm 77%. Số tiền đầu tư vào trái phiếu đạt 92.281 tỷ đồng, trong đó 81,5% là trái phiếu chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.
Việc cơ cấu đầu tư nghiêng sang dài hạn là "đặc thù" của nhóm bảo hiểm nhân thọ, khi điều này được thể hiện ở nhiều doanh nghiệp khác như: Dai-ichi Life (quy mô đầu tư 71.418 tỷ đồng, dài hạn chiếm 74,5%), Cathay Life (quy mô đầu tư 31.559 tỷ đồng, dài hạn chiếm 84%), Hanwha Life (quy mô đầu tư 23.489 tỷ đồng, dài hạn chiếm 90%), Chubb Life (quy mô đầu tư 22.180 tỷ đồng, dài hạn chiếm 81%)…
Vì thế, đà tăng của lãi suất chỉ giúp các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cải thiện được lợi tức đối với dòng tiền mới huy động hay các khoản tiền gửi đến kỳ đáo hạn, chứ không thể thay đổi được thu nhập từ các khoản trái phiếu.
Dù vậy, nhờ quy mô danh mục đầu tư lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ vẫn ghi nhận nguồn thu tài chính đáng kể. Chẳng hạn với Bảo Việt Nhân Thọ, trong nửa đầu năm 2026, hoạt động tài chính mang về doanh thu hơn 7.654 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ. Lợi nhuận gộp hoạt động tài chính đạt hơn 5.584 tỷ đồng, tăng 19%. Đây là một trong những đóng góp quan trọng giúp Bảo Việt Nhân Thọ có lợi nhuận trước thuế hơn 1.811 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 1.460 tỷ đồng, cùng tăng 50% so với cùng kỳ.
Hay như với Prudential Việt Nam, 6 tháng năm 2026, hoạt động đầu tư tài chính đạt hơn 6.077 tỷ đồng doanh thu, tăng tới 44% so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp lớn nhất vào nguồn thu này là lãi từ trái phiếu với hơn 2.511 tỷ đồng (gần như đi ngang), lãi từ tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi 1.753 tỷ đồng (tăng 20%). Lợi nhuận gộp từ mảng tài chính ghi nhận mức tăng tới 46%, đạt hơn 5.696 tỷ đồng, trở thành động lực tăng trưởng chính của doanh nghiệp.
Với nhóm bảo hiểm phi nhân thọ, cơ cấu đầu tư có sự khác biệt. Do phần lớn hợp đồng bảo hiểm có thời hạn một năm, các doanh nghiệp thường có nhu cầu duy trì danh mục tài sản ngắn hạn với tỷ trọng lớn hơn, trong đó có tiền gửi ngân hàng.
Có thể thấy rõ điều này ở Tổng công ty CP Bảo Minh (HoSE: BMI), quy mô đầu tư tại ngày 30/6/2026 là 4.306 tỷ đồng, riêng ngắn hạn là 3.750 tỷ đồng, chiếm 87%; Tổng công ty CP Bảo hiểm BIDV (HoSE: BIC) quy mô đầu tư là 7.479 tỷ đồng, riêng ngắn hạn là 5.310 tỷ đồng, chiếm 71%; Tổng công ty CP Bảo hiểm Petrolimex (HoSE: PGI) quy mô đầu tư 5.769 tỷ đồng, ngắn hạn là 4.902 tỷ đồng chiếm 85%; Tổng công ty CP Bảo hiểm Bưu điện (HNX: PTI) quy mô đầu tư 4.777 tỷ đồng, ngắn hạn là 4.041 tỷ đồng, chiếm 84%... Cá biệt, với Tổng công ty CP Bảo hiểm Quân đội (HoSE: MIG) toàn bộ danh mục đầu tư đều là ngắn hạn với giá trị 5.921 tỷ đồng.

Đồ hoạ: N.M.
Nhờ "đặc trưng" này, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hưởng lợi gần như tức thì với sự thay đổi của mặt bằng lãi suất, qua đó tối ưu hoá lợi nhuận từ hoạt động tài chính.
Tuy nhiên, quy mô danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nhỏ hơn đáng kể so với nhóm nhân thọ, chỉ bằng vài chục %, thậm chí vài %. Số thu thực tế của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khá "khiêm tốn", chỉ bù đắp được phần nào cho sự suy giảm của hoạt động kinh doanh cốt lõi, chứ không đủ sức trở thành động lực đưa kết quả kinh doanh bứt phá.
"Tác dụng phụ" của lãi suất cao
Dù mang lại nguồn thu tài chính đáng kể, mặt bằng lãi suất cao không phải lợi thế bền vững với doanh nghiệp bảo hiểm. Khi chính sách tiền tệ đảo chiều, lợi suất từ các khoản đầu tư mới hoặc tái đầu tư có thể suy giảm, khiến nguồn thu này không còn đóng góp tích cực như trước.
Trong khi đó, sự suy giảm của doanh thu phí bảo hiểm vẫn là bài toán cần giải quyết, thay vì để nguồn thu tài chính tạm thời che lấp những hạn chế trong hoạt động kinh doanh cốt lõi.
Đồng thời, việc đưa ra các mức lãi suất minh họa thiếu thận trọng hoặc nới lỏng quy trình thẩm định để mở rộng doanh số có thể làm gia tăng rủi ro trong dài hạn, nhất là khi hiệu quả đầu tư không đủ bù đắp các nghĩa vụ đã cam kết. Trong bối cảnh khó khăn hiện tại, việc chi trả cổ tức cũng đặt ra yêu cầu cân đối với nhu cầu củng cố bộ đệm an toàn tài chính của doanh nghiệp.
Thực tế, lãi suất cao cũng là "con dao hai lưỡi", nhất là với nhóm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Bởi khi lãi suất tiền gửi tăng, người tiêu dùng có thêm động lực so sánh lợi ích giữa các kênh tích lũy tài sản. Điều này có thể khiến một bộ phận khách hàng trì hoãn việc tham gia bảo hiểm nhân thọ hoặc cân nhắc chấm dứt hợp đồng trước hạn để chuyển dòng tiền sang tiết kiệm. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn phí mới mà còn chịu áp lực duy trì khách hàng hiện hữu.
Trong bối cảnh khó khăn của ngành bảo hiểm kéo dài, những áp lực này có thể làm suy yếu khả năng đóng góp của hoạt động tài chính vào lợi nhuận chung. Khi nguồn thu đầu tư không còn duy trì được vai trò bù đắp, khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm cũng sẽ chịu thêm sức ép.



