Làm chủ công nghệ điện lực phải được kiểm chứng bằng năng lực thực chất
Chiều 3/11, trao đổi bên lề phiên thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (TP. Hà Nội) đề nghị làm rõ tiêu chí, trách nhiệm và cơ chế đánh giá đối với các dự án được hưởng cơ chế ưu đãi nhằm làm chủ công nghệ. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về chứng chỉ điện xanh theo nguyên tắc một thuộc tính tái tạo chỉ được xác nhận cho một chủ thể, bảo đảm tính minh bạch và khả năng kiểm chứng trên thị trường.
Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả làm chủ công nghệ
Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Việt, hai vấn đề cần quan tâm trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực là cơ chế làm chủ công nghệ và chứng chỉ điện xanh. Cả hai vấn đề đều đặt ra yêu cầu chung, đó là chính sách phải tạo ra giá trị thực chất và có cơ chế kiểm chứng rõ ràng đối với giá trị đó.
Về chính sách hỗ trợ làm chủ công nghệ, đại biểu cho biết, khoản 10 Điều 1 dự thảo Luật bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 18, cho phép một số dự án điện lực nhằm làm chủ công nghệ, phát triển thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống được lựa chọn nhà đầu tư không qua đấu giá, đấu thầu. Cùng với đó, khoản 4 Điều 1 sửa đổi Điều 8, tạo điều kiện cho thiết bị, phần mềm trong nước và ghi nhận một số chi phí thử nghiệm, kiểm định lần đầu vào chi phí hợp lệ.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (TP. Hà Nội). Ảnh: Phi Long
Theo đại biểu, có thể hình dung một dự án sử dụng phần mềm điều khiển lưới điện do doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Dự án có thể được áp dụng cơ chế miễn đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, sản phẩm trong nước có cơ hội triển khai, chi phí thử nghiệm được ghi nhận theo quy định. Tuy nhiên, nếu phần mềm không đáp ứng yêu cầu vận hành hoặc sau khi kết thúc dự án, doanh nghiệp vẫn chưa thể tự thiết kế, nâng cấp công nghệ thì việc đánh giá mục tiêu làm chủ công nghệ được thực hiện như thế nào, ai chịu trách nhiệm đối với phần chi phí không hiệu quả là những vấn đề cần được làm rõ.
"Không phải mọi chi phí đều đương nhiên được chuyển vào giá điện, đồng thời cũng không nên đặt ra những rào cản quá cao đối với công nghệ mới. Điều cần thiết là phải có cơ chế đánh giá độc lập phù hợp với mức độ rủi ro, nhất là đối với những thiết bị có ảnh hưởng đến an toàn hệ thống", đại biểu Nguyễn Ngọc Việt phân tích.
Liên quan đến phạm vi áp dụng cơ chế ngoại lệ, đại biểu dẫn Báo cáo số 881 của Bộ Công Thương, trang 57, trong đó giải thích ngoại lệ theo hướng áp dụng đối với các dự án quan trọng, quy mô lớn, thuộc chương trình hoặc danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, nội dung này chưa được thể hiện trực tiếp tại điểm đ khoản 1 Điều 18 mà đang giao Chính phủ quy định chi tiết.
Từ đó, đại biểu đề nghị quy định ngay trong luật các nội dung cốt lõi: dự án nào được áp dụng cơ chế ngoại lệ; cơ quan, chủ thể nào có thẩm quyền quyết định; căn cứ nào để xác định sự cần thiết của việc miễn cạnh tranh; kết quả làm chủ công nghệ được kiểm chứng bằng phương thức nào. Các quy chuẩn thử nghiệm cụ thể có thể giao Chính phủ quy định. Theo đại biểu, cần nhận thức rõ rằng, làm chủ công nghệ không đơn thuần là mua sắm hoặc sử dụng thiết bị trong nước, mà phải thể hiện ở năng lực tự thiết kế, vận hành, bảo trì và cải tiến được thiết bị đó.
Chứng chỉ điện xanh phải bảo đảm quyền xác nhận duy nhất
Đối với thị trường chứng chỉ điện xanh, đại biểu Nguyễn Ngọc Việt cho rằng, yêu cầu quan trọng là không để xảy ra tình trạng hai doanh nghiệp cùng nhận một quyền xác nhận xanh đối với cùng một sản lượng điện. Đại biểu dẫn chứng Khoản 12 Điều 1 dự thảo Luật bổ sung khoản 7a Điều 20, quy định chứng chỉ năng lượng tái tạo có thể được giao dịch riêng với điện thương phẩm và mỗi chứng chỉ chỉ được sử dụng một lần. Đại biểu đánh giá đây là bước tiến quan trọng, bởi điện để sử dụng và quyền chứng minh nguồn gốc tái tạo của điện là hai đối tượng có thể được giao dịch riêng biệt.
Để làm rõ vấn đề, đại biểu nêu tình huống: Một nhà máy điện gió sản xuất 1MWh điện, doanh nghiệp A mua phần điện để sử dụng, trong khi doanh nghiệp B mua riêng chứng chỉ năng lượng tái tạo tương ứng. Khi đó, A có điện theo hợp đồng, còn B nắm giữ quyền xác nhận thuộc tính xanh theo chứng chỉ được chuyển nhượng hợp lệ.

Các đại biểu tham gia phiên thảo luận tại hội trường chiều 3/11. Ảnh: Hồ Long
Tuy nhiên, vấn đề phát sinh nếu doanh nghiệp A cũng tuyên bố sở hữu thuộc tính xanh của chính lượng điện đó, trong khi doanh nghiệp B đã sử dụng chứng chỉ để chứng minh điều tương tự. Như vậy, cùng một thuộc tính xanh có thể được hai chủ thể cùng nhận là của mình. Dù chứng chỉ chỉ được sử dụng một lần trên hệ thống, các tuyên bố bên ngoài vẫn có nguy cơ trùng lặp. Đây là tình huống giả định cần được tính đến và có cơ chế phòng ngừa ngay từ quy định pháp luật.
Theo đại biểu, vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Khi kiểm toán phát thải, đối tác không chỉ quan tâm doanh nghiệp có mua điện từ nguồn gió hay không mà còn cần xác định rõ ai là chủ thể sở hữu quyền xác nhận thuộc tính xanh. Nếu không thể truy xuất, chứng chỉ có thể không đáp ứng yêu cầu kiểm chứng của thị trường.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung rõ tại khoản 7a Điều 20 nguyên tắc: cùng một sản lượng điện không được có hai chủ thể cùng sử dụng thuộc tính tái tạo để xác nhận theo cơ chế chứng chỉ. Thuộc tính đã được chuyển nhượng hoặc sử dụng không được tiếp tục tuyên bố cho một chủ thể khác. Đồng thời, Chính phủ cần quy định cụ thể cách thức đối chiếu hợp đồng, dữ liệu đo đếm và việc hủy chứng chỉ, bảo đảm khả năng truy xuất và kiểm chứng.
Nhấn mạnh yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 70 về làm chủ công nghệ năng lượng và xây dựng thị trường cạnh tranh, minh bạch, đại biểu cho rằng, hai nhóm kiến nghị nêu trên đều hướng tới mục tiêu chung: đầu tư vào công nghệ phải hình thành được năng lực thực chất; chứng chỉ điện xanh phải bảo vệ được quyền lợi có thể kiểm chứng của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định tại Điều 8, Điều 18 và Điều 20 của dự thảo Luật, bảo đảm mỗi cơ chế ưu đãi đều có tiêu chí đánh giá kết quả và mỗi quyền lợi trên thị trường đều có căn cứ xác nhận rõ ràng.

