Làm chủ công nghệ sinh học, bắt đầu từ bài toán của nhà nông

Giống chống chịu tốt hơn, chế phẩm giúp giảm chi phí, công nghệ biến phụ phẩm thành nguyên liệu có giá trị… là những nhu cầu cụ thể mà công nghệ sinh học cần giải quyết. Năng lực làm chủ công nghệ phải được chứng minh bằng sản phẩm có thể sản xuất, tiêu thụ và mang lại lợi ích cho người sử dụng.

Công nghệ sinh học mở ra hướng phát triển mới, góp phần nâng cao năng suất và giá trị nông nghiệp. Ảnh minh họa

Công nghệ sinh học mở ra hướng phát triển mới, góp phần nâng cao năng suất và giá trị nông nghiệp. Ảnh minh họa

Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự đi vào đời sống khi người sản xuất tiếp cận được và sử dụng có hiệu quả. Với công nghệ sinh học, khoảng cách ấy đòi hỏi nhiều bước kiểm chứng: từ kết quả trong phòng thí nghiệm đến độ ổn định ngoài đồng ruộng, từ khả năng sản xuất đến giá thành và yêu cầu an toàn.

Đây là những vấn đề cần được giải quyết khi Việt Nam đặt mục tiêu nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ sinh học và phát triển các sản phẩm trong nước.

Nghiên cứu phải trả lời nhu cầu sản xuất

Công nghệ sinh học có phạm vi ứng dụng rộng, từ cải thiện giống, phát triển vaccine, chế phẩm vi sinh đến bảo quản nông sản và xử lý môi trường. Trong đó, sinh học tổng hợp mở thêm khả năng thiết kế, điều chỉnh hệ thống sinh học để tạo ra protein, enzyme và các sản phẩm phục vụ sản xuất.

Tiềm năng lớn, nhưng hiệu quả của từng ứng dụng cần được đánh giá cụ thể. Một giống cây chống chịu tốt vẫn phải đáp ứng yêu cầu về năng suất, chất lượng và thị trường. Một chế phẩm xử lý phụ phẩm chỉ có thể được sử dụng lâu dài khi hiệu quả ổn định, cách dùng thuận tiện và chi phí phù hợp.

Bởi vậy, việc lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu cần bắt đầu từ những khó khăn thực tế. Vùng sản xuất đang thiệt hại vì loại dịch bệnh nào?. Công đoạn nào làm nông sản giảm chất lượng?. Phụ phẩm nào chưa được tận dụng?. Người sản xuất có thể chi trả bao nhiêu cho giải pháp mới?.

Những câu hỏi này giúp xác định rõ mục tiêu, tránh tình trạng kết quả nghiên cứu có triển vọng nhưng khó tìm nơi ứng dụng. Doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu, cùng thử nghiệm và đánh giá sản phẩm.

Sự tham gia ấy cũng giúp nhà khoa học nhận diện sớm những trở ngại khi mở rộng quy mô. Một quy trình vận hành tốt trong phòng thí nghiệm có thể phải điều chỉnh đáng kể khi đưa vào nhà máy hoặc áp dụng trong điều kiện đồng ruộng biến động.

Thúc đẩy công nghệ mới bằng cơ chế rõ ràng

Giải trình trước Quốc hội ngày 31/10/2026 về phát triển công nghệ sinh học tổng hợp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, Bộ đã triển khai nhiều nhiệm vụ nhằm cụ thể hóa các chủ trương, chính sách phát triển lĩnh vực này.

Để các định hướng trở thành kết quả, cần làm rõ trách nhiệm và điều kiện thực hiện ở từng khâu, từ nghiên cứu, thử nghiệm đến đánh giá, cấp phép và chuyển giao. Quy trình thiếu rõ ràng có thể khiến sản phẩm chậm được kiểm chứng, doanh nghiệp khó tính toán đầu tư, còn người sản xuất tiếp tục chờ đợi giải pháp.

Với những công nghệ mới, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là một hướng cần nghiên cứu. Phạm vi thử nghiệm, thời hạn, đơn vị giám sát và tiêu chí đánh giá phải được xác định trước. Đồng thời, cần có phương án theo dõi tác động, xử lý sự cố và trách nhiệm của các bên.

Giá trị của thử nghiệm nằm ở dữ liệu thu được. Dữ liệu phải đủ để xác định sản phẩm có hiệu quả hay không, an toàn trong điều kiện nào và cần điều chỉnh những gì trước khi mở rộng ứng dụng.

Cũng cần phân biệt công nghệ vi sinh, biến đổi gen, chỉnh sửa gen và sinh học tổng hợp. Mỗi nhóm có đặc điểm và yêu cầu đánh giá riêng. Nhận định về lợi ích hay rủi ro phải dựa trên sản phẩm, mục đích sử dụng và bằng chứng cụ thể.

Tính đủ chi phí để công nghệ đến được đồng ruộng

Thương mại hóa thường là khâu khó, bởi kết quả nghiên cứu còn phải vượt qua phép thử về sản xuất và thị trường. Chất lượng có duy trì được giữa các lô hàng?. Nguyên liệu có ổn định?. Bảo quản, vận chuyển ra sao?. Sau khi tính đủ chi phí, giá bán có phù hợp với người sử dụng?.

Những vấn đề này cần được giải quyết song song với hoàn thiện kỹ thuật. Hỗ trợ chuyển giao vì thế phải bao gồm cả sản xuất thử, kiểm soát chất lượng, bảo hộ tài sản trí tuệ và hướng dẫn sử dụng.

Đối với chế phẩm sinh học, việc chuyển giao cần làm rõ điều kiện bảo quản, liều lượng và thời điểm sử dụng. Thiếu hướng dẫn phù hợp có thể khiến sản phẩm không phát huy hiệu quả, làm người sử dụng mất niềm tin dù công nghệ có tiềm năng.

Liên kết giữa cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp và vùng sản xuất sẽ giúp rút ngắn quá trình hoàn thiện. Doanh nghiệp có thêm căn cứ đầu tư; nhà khoa học nhận được phản hồi thực tế; người sản xuất có cơ hội đánh giá lợi ích trước khi áp dụng rộng rãi.

Riêng với nông nghiệp hữu cơ, mọi ứng dụng cần được đối chiếu với tiêu chuẩn áp dụng. Không thể chỉ dựa vào tên gọi “sinh học” để xác định một chế phẩm, giống hay quy trình được phép sử dụng. Thông tin rõ ràng về nguồn gốc, thành phần và phương pháp tạo ra sản phẩm là cơ sở để lựa chọn đúng.

Làm chủ công nghệ sinh học là một quá trình đầu tư dài hạn. Thành quả cần được nhìn ở những sản phẩm trong nước có chất lượng ổn định, đáp ứng yêu cầu an toàn và giải quyết được nhu cầu sản xuất. Khi nhà nông có thể sử dụng công nghệ với chi phí hợp lý và thu được lợi ích rõ ràng, nghiên cứu mới có chỗ đứng bền vững trên đồng ruộng.

PV

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/lam-chu-cong-nghe-sinh-hoc-bat-dau-tu-bai-toan-cua-nha-nong-18284.html