Tên lửa Iskander-M Mach 7, quỹ đạo quasi-ballistic, 'ác mộng' với mọi hệ thống phòng không
Iskander-M không chỉ là tên lửa đạn đạo thông thường; với quỹ đạo bán đạn đạo (quasi-ballistic), tốc độ Mach 7 và độ chính xác cao, đây là ‘ác mộng’ thực sự với mọi hệ thống phòng không hiện đại.
Hệ thống tên lửa chiến thuật Iskander-M của Nga từ lâu đã trở thành một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất trên chiến trường hiện đại.

Phóng tên lửa Iskander-M. Ảnh: Bộ Quốc phòng Nga/missilethreat.csis.org
Video phóng tên lửa đạn đạo 9M723 của tổ hợp Iskander-M Nga. Nguồn: Bộ Quốc phòng Nga.
Không chỉ bởi tầm bắn và sức công phá, mà còn nhờ khả năng cơ động cao, quỹ đạo khó đoán và độ chính xác đáng kể, khiến việc đánh chặn trở nên phức tạp ngay cả với các hệ thống phòng không tiên tiến.
Iskander-M (NATO định danh SS-26 Stone) là tổ hợp tên lửa đạn đạo tầm ngắn di động đường bộ, do Cục thiết kế máy Kolomna (KBM) phát triển và được đưa vào biên chế từ năm 2006.
Tổ hợp này thay thế các hệ thống cũ như Tochka-U, với mục tiêu chính là tấn công các mục tiêu quan trọng trong chiều sâu chiến thuật-chiến dịch như sở chỉ huy, kho đạn, sân bay, hệ thống phòng không hoặc lực lượng tập trung.
Điểm nổi bật nhất nằm ở tên lửa đạn đạo 9M723 (và các biến thể cải tiến), cùng khả năng phóng cả tên lửa hành trình từ cùng một bệ phóng.

Xe phóng của tổ hợp tên lửa Iskander-M. Ảnh từ các nguồn mở/militarnyi.com
Về thông số kỹ thuật cơ bản, tên lửa 9M723 có chiều dài 7,2-7,3 mét, đường kính thân 0,92 mét và khối lượng phóng khoảng 3.800kg.
Đầu đạn nặng từ 450 đến 700kg, có thể là đầu đạn nổ phá đơn khối, đầu đạn chùm (cluster), đầu đạn xuyên bê tông, đầu đạn nhiệt áp, thậm chí đầu đạn hạt nhân chiến thuật.
Tầm bắn chính thức thường được nêu ở mức 400-500km, song dữ liệu từ cơ quan tình báo Ukraine (GUR) gần đây cho thấy phiên bản tiêu chuẩn 9M723-1 đạt khoảng 390km, trong khi biến thể nâng cấp 9M723-2 (còn gọi là Iskander-1000 hoặc gắn với tổ hợp Bora-M) có thể đạt khoảng 550km nhờ động cơ lớn hơn.
Tốc độ đạt đỉnh khoảng 2.100-2.600 m/s (tương đương Mach 6-7) ở giai đoạn hoạt động, giảm xuống khoảng 1.300-1.400 m/s khi tiếp cận mục tiêu. Độ cao bay tối đa thường nằm trong khoảng 50-100km.

Tên lửa đạn đạo Iskander 9M723. Nguồn ảnh: Bộ Quốc phòng Nga/militarnyi.com
Đặc điểm kỹ thuật quan trọng nhất khiến Iskander-M khác biệt là quỹ đạo quasi-ballistic (bán đạn đạo). Thay vì bay theo đường cong đạn đạo cổ điển dễ dự đoán, tên lửa duy trì quỹ đạo thấp hơn, sử dụng điều khiển khí động học và phản lực trong suốt hành trình.
Nó có thể thực hiện các động tác cơ động mạnh (lên đến 20-30g) ngay sau khi phóng và đặc biệt ở giai đoạn cuối, kết hợp với việc hạ độ cao gần như thẳng đứng xuống mục tiêu.
Điều này làm giảm thời gian phản ứng của hệ thống phòng thủ và tăng khả năng tránh bị đánh chặn. Tên lửa còn mang theo các biện pháp hỗ trợ xuyên phá như mồi bẫy (decoys) để gây nhiễu radar.
Hệ thống dẫn đường kết hợp nhiều chế độ. Cơ sở là dẫn đường quán tính (inertial) với gyroscope laser, được hỗ trợ bởi tín hiệu vệ tinh GLONASS (và có thể GPS).

Các bệ phóng tên lửa Iskander-M của Nga di chuyển trên Quảng trường Đỏ trong lễ diễu binh Ngày Chiến thắng tại trung tâm Moscow vào ngày 9/5/2024. Ảnh: NATALIA KOLESNIKOVA/kyivpost.com
Ở giai đoạn cuối, nhiều phiên bản sử dụng đầu dò quang học tương quan (optical DSMAC - Digital Scene Matching Area Correlation), so sánh hình ảnh thực tế với bản đồ mục tiêu đã được nạp trước.
Một số nguồn cho biết còn có khả năng dẫn đường bằng radar chủ động. Nhờ vậy, độ lệch mục tiêu (CEP) được ước tính ở mức 5-10 mét khi có đầu dò quang học, hoặc 20-30 mét ở chế độ tự trị. Độ chính xác này cho phép tấn công cả mục tiêu cố định lẫn một số mục tiêu di động có giá trị cao.
Bệ phóng chính là xe mang-dựng-phóng (TEL) 9P78-1 trên khung gầm bánh lốp 8x8 MZKT-7930 (sản xuất tại Belarus), chở hai quả tên lửa.
Xe nặng khoảng 42-43 tấn khi mang đạn, có khả năng di chuyển đường trường đến 70 km/h và hoạt động tốt trên địa hình phức tạp.

Các bệ phóng tên lửa Iskander-M diễn tập di chuyển phía trước Nhà thờ Thánh Basil trên Quảng trường Đỏ ở Moscow, Nga, vào ngày 7/5/2011. Ảnh: Sasha Mordovets/kyivindependent.com.
Thời gian sẵn sàng phóng từ trạng thái di chuyển khoảng 6-16 phút, còn từ vị trí dừng chỉ khoảng 4-5 phút. Khoảng cách giữa hai lần phóng từ cùng một bệ dưới 1 phút. Xe nạp đạn 9T250 đi kèm giúp nạp lại hai quả tên lửa trong khoảng 16 phút.
Toàn bộ tổ hợp bao gồm xe chỉ huy, xe chuẩn bị thông tin và các phương tiện hỗ trợ khác, tạo thành một đơn vị tự chủ cao, có thể triển khai nhanh, bắn rồi di chuyển ngay để tránh phản công.
Iskander-M còn có thể phóng tên lửa hành trình (phiên bản Iskander-K với 9M728/R-500 hoặc 9M729), bay thấp hơn và tầm xa hơn ở một số cấu hình, tạo sự linh hoạt trong lựa chọn vũ khí.
Sự kết hợp giữa tên lửa đạn đạo tốc độ cao, cơ động và tên lửa hành trình bay thấp khiến đối phương phải đối phó với nhiều loại đe dọa cùng lúc.

Xe phóng của tổ hợp tên lửa Iskander-M. Ảnh: newsukraine.rbc.ua
Từ góc nhìn công nghệ, Iskander-M thể hiện sự kết hợp giữa động cơ nhiên liệu rắn một tầng ổn định, hệ thống điều khiển tiên tiến và khả năng sống sót cao trên chiến trường nhờ tính di động.
Tuy nhiên, như mọi hệ thống vũ khí, nó không bất khả chiến bại. Việc phát hiện sớm vị trí bệ phóng (đặc biệt khi đang nạp đạn hoặc chuẩn bị), kết hợp với đòn đánh chính xác vào các phương tiện hỗ trợ, vẫn là cách hiệu quả để hạn chế mối đe dọa này.
Các nguồn mở cũng ghi nhận rằng độ chính xác và khả năng xuyên phá thực tế phụ thuộc nhiều vào chất lượng dữ liệu mục tiêu, điều kiện thời tiết và biện pháp đối kháng điện tử của đối phương.
Iskander-M không chỉ là một tên lửa đạn đạo thông thường mà là một tổ hợp vũ khí được thiết kế để vượt qua các lớp phòng thủ hiện đại thông qua tốc độ, cơ động và độ chính xác.
(Theo kyivindependent.com, kyivpost.com, newsukraine.rbc.ua, ukranews.com)
