Làm sạch mã số thuế, phản ánh đúng trạng thái doanh nghiệp

Gần 600.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký tính đến tháng 6/2026. Xử lý hồ sơ tồn đọng cần vừa tháo gỡ nhanh cho doanh nghiệp tuân thủ, vừa sàng lọc các trường hợp lợi dụng pháp nhân để vi phạm pháp luật.

Ngành thuế đẩy mạnh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế. (Ảnh: Minh Phương)

Ngành thuế đẩy mạnh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế. (Ảnh: Minh Phương)

Khoảng trống giữa ngừng kinh doanh và rời thị trường

Một doanh nghiệp không còn sản xuất, kinh doanh chưa đồng nghĩa với việc pháp nhân đó đã hoàn tất thủ tục rời khỏi thị trường. Giữa thời điểm ngừng hoạt động và thời điểm chấm dứt hiệu lực mã số thuế có thể tồn tại nhiều nghĩa vụ chưa được xử lý, từ hồ sơ khai thuế còn thiếu, tiền thuế và các khoản phải nộp, tình hình sử dụng hóa đơn đến thủ tục của các đơn vị phụ thuộc.

Khoảng trống này kéo dài qua nhiều năm đã tạo nên một lượng lớn hồ sơ tồn đọng. Theo thống kê của Cục Thuế, tại thời điểm tháng 6/2026, có gần 600.000 doanh nghiệp thuộc hai nhóm: ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế.

Con số này cho thấy vấn đề không còn dừng ở việc xử lý từng bộ hồ sơ hành chính. Một cơ sở dữ liệu còn chứa nhiều doanh nghiệp không hoạt động thực chất sẽ làm giảm độ chính xác của các chỉ tiêu phản ánh quy mô và trạng thái của khu vực doanh nghiệp. Ngược lại, nếu số hồ sơ được hoàn tất trong một thời gian ngắn được hiểu ngay là số doanh nghiệp vừa rời thị trường, bức tranh về sức khỏe nền kinh tế cũng có thể bị nhìn nhận sai lệch.

Kết quả tám tháng đầu năm 2026 là một trường hợp cần được đọc đúng bản chất. Trong thời gian này, ngành thuế đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho 94.991 doanh nghiệp, tổ chức, bằng 209% cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, chỉ 23.017 trường hợp trong số đó đề nghị thực hiện thủ tục trong năm 2026 do không còn nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Có tới 71.974 trường hợp là hồ sơ nộp từ năm 2025 trở về trước, được xử lý trong Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”.

Như vậy, mức tăng mạnh của số trường hợp hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế chủ yếu phản ánh tiến độ giải quyết hồ sơ tích tụ từ các năm trước, không đồng nhất với số doanh nghiệp mới quyết định rời thị trường trong năm nay. Nếu gộp hai nhóm này để đánh giá diễn biến thành lập và rút lui khỏi thị trường, số liệu có thể dẫn tới nhận định thiếu chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

Ở chiều ngược lại, việc rà soát không chỉ dẫn tới đóng mã số thuế. Cơ quan thuế các cấp đã hỗ trợ khôi phục mã số thuế cho 3.554 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kết quả này cho thấy trong khối dữ liệu tồn đọng có những doanh nghiệp thực sự muốn tái gia nhập thị trường nhưng trước đó chưa xử lý xong các vướng mắc về thuế và thủ tục pháp lý.

Theo quy định hiện hành, khung pháp lý trực tiếp điều chỉnh việc chấm dứt và khôi phục hiệu lực mã số thuế gồm Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và Thông tư số 90/2026/TT-BTC. Chiến dịch không đặt thêm nghĩa vụ pháp lý mới mà tập trung rà soát, hỗ trợ thực hiện và xử lý những nghĩa vụ đã được quy định.

Khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, người nộp thuế phải hoàn thành nghĩa vụ về hóa đơn, hồ sơ khai thuế, tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; đồng thời xử lý khoản nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ, nếu có. Trường hợp đơn vị chủ quản có đơn vị phụ thuộc, các đơn vị phụ thuộc phải hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế trước.

Đối với người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, nghĩa vụ thuế phát sinh trong thời gian này không tự mất đi. Nếu đề nghị khôi phục mã số thuế, người nộp thuế phải bổ sung hồ sơ khai thuế còn thiếu và hoàn thành các khoản phải nộp theo quy định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp doanh nghiệp quay lại chỉ để thực hiện thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ, cơ quan thuế xác định hồ sơ khai thuế còn thiếu, tình hình sử dụng hóa đơn, các khoản phải nộp hoặc còn nợ và xử lý vi phạm đến thời điểm nộp hồ sơ. Pháp luật không bắt buộc cơ quan thuế phải xác minh lại tình trạng hoạt động tại địa chỉ đăng ký trong trường hợp này. Đây là một điểm có thể giúp giảm thêm thời gian xử lý đối với hồ sơ đáp ứng điều kiện.

Không để việc tháo gỡ trở thành kẽ hở

Nếu chỉ nhìn việc làm sạch mã số thuế như một đợt xử lý hồ sơ tồn đọng, mục tiêu của chiến dịch sẽ chưa được phản ánh đầy đủ. Phía sau gần 600.000 trường hợp cần rà soát là nhiều tình trạng rất khác nhau, đòi hỏi cách xử lý tương ứng thay vì áp dụng một quy trình đồng loạt.

Có doanh nghiệp ngừng hoạt động do khó khăn, muốn hoàn thành nghĩa vụ để giải thể đúng pháp luật. Có doanh nghiệp cần khôi phục mã số thuế để quay lại kinh doanh. Nhưng cũng có những pháp nhân không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, chủ doanh nghiệp không thể liên hệ hoặc có dấu hiệu lợi dụng hóa đơn, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế. Đáng chú ý, một số cá nhân còn bị sử dụng trái phép thông tin để đứng tên thành lập doanh nghiệp mà không biết.

Vì vậy, yêu cầu quan trọng là phân luồng hồ sơ và phân tầng rủi ro. Những trường hợp có ý thức tuân thủ, hồ sơ rõ ràng cần được hướng dẫn, xử lý nhanh. Những trường hợp rủi ro cao phải được kiểm tra, xác minh và phối hợp xử lý, tránh việc lợi dụng thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế để hợp thức hóa vi phạm đã xảy ra.

Theo kế hoạch triển khai, ngành thuế lấy thời gian giải quyết hồ sơ, mức độ giảm tồn đọng tại các địa bàn trọng điểm, khả năng kiểm soát hồ sơ mới phát sinh và kết quả xử lý nhóm rủi ro cao làm những thước đo chủ yếu. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu không chạy theo số lượng mã số thuế được đóng, bởi một kết quả xử lý nhanh nhưng không phân loại đúng đối tượng có thể để lại rủi ro về thuế và hóa đơn.

Cục Thuế đang phối hợp với Cục C06, Bộ Công an rà soát, chuẩn hóa thông tin định danh của người đại diện theo pháp luật đối với các doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Thông tin định danh được sử dụng để liên hệ, hướng dẫn người nộp thuế và phục vụ xác minh trong quản lý thuế.

Với cơ quan đăng ký kinh doanh, việc phối hợp tập trung vào xử lý doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định và hoàn tất giải thể đối với doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Cơ quan thuế cũng phối hợp với cơ quan hải quan xác nhận nghĩa vụ thuế, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động.

Một vấn đề cần được xử lý thận trọng là trường hợp cá nhân bị giả mạo hoặc sử dụng trái phép thông tin để thành lập doanh nghiệp. Hướng xử lý đang được các cơ quan liên quan phối hợp làm rõ là bảo vệ quyền lợi của người bị hại, đồng thời tách bạch trách nhiệm của cá nhân này với nghĩa vụ của pháp nhân được thành lập trái phép. Nếu không phân định rõ, người bị giả mạo thông tin có thể phải đối mặt với những hệ quả pháp lý, nghĩa vụ thuế hoặc biện pháp cưỡng chế phát sinh từ doanh nghiệp mà họ không thực sự thành lập, điều hành.

Cùng với gửi thông báo qua tài khoản điện tử, thư điện tử và số điện thoại đã đăng ký, ngành thuế công khai tình trạng mã số thuế của các doanh nghiệp thuộc diện rà soát. Ứng dụng eTax Mobile cũng được mở rộng để người đại diện theo pháp luật theo dõi nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp có liên quan, các quyết định cưỡng chế nợ thuế, tạm hoãn xuất cảnh và phản ánh việc thông tin cá nhân bị sử dụng trái phép để thành lập doanh nghiệp giả mạo.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu đầu vào chính xác và trách nhiệm giữa các cơ quan được xác định rõ. Việc làm sạch dữ liệu thuế do đó cần gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu đăng ký kinh doanh và thông tin của các cơ quan quản lý liên quan. Đây cũng là nền tảng để triển khai hệ thống quản lý thuế mới, hạn chế tình trạng một doanh nghiệp mang những trạng thái khác nhau trong các hệ thống dữ liệu.

Giải quyết khối hồ sơ tồn đọng không đơn thuần làm giảm một con số thống kê. Khi doanh nghiệp tuân thủ được hỗ trợ hoàn tất thủ tục, các chủ thể đã ngừng hoạt động có thể rời thị trường đúng quy định, còn doanh nghiệp có khả năng phục hồi có cơ hội quay lại kinh doanh. Cùng với đó, những pháp nhân không hoạt động thực chất hoặc có dấu hiệu vi phạm được nhận diện để kiểm soát rủi ro.

Thước đo cuối cùng của chiến dịch vì thế phải là chất lượng dữ liệu và chất lượng phục vụ, không chỉ là số lượng mã số thuế được xử lý. Một hệ thống dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” sẽ giúp số liệu về doanh nghiệp gia nhập, hoạt động, tạm ngừng và rời thị trường phản ánh sát thực tế hơn. Đó là điều kiện cần để đánh giá đúng sức khỏe khu vực doanh nghiệp, xây dựng chính sách hỗ trợ trúng đối tượng và giữ môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng.

MINH PHƯƠNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/lam-sach-ma-so-thue-phan-anh-dung-trang-thai-doanh-nghiep-post987419.html