Làm sạch mã số thuế, xử lý tồn đọng qua nhiều thời kỳ
Ở phía người nộp thuế, nhận thức và mức độ tuân thủ pháp luật về tạm ngừng, giải thể, chấm dứt hoạt động còn hạn chế.
Ông Nguyễn Đức Huy - Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) cho biết, qua rà soát hồ sơ và kết quả triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, tình trạng người nộp thuế ở trạng thái 03 (ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế) và trạng thái 06 (không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký) là tồn đọng tích lũy qua nhiều thời kỳ, xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

Cán bộ thuế hướng dẫn hộ kinh doanh trong quá trình kê khai thuế. Ảnh: Dương Hải/BNEWS/TTXVN
Theo ông Nguyễn Đức Huy, một trong những nguyên nhân là cơ chế, chính sách và thủ tục gia nhập thị trường ngày càng được đơn giản hóa, trong khi việc rút khỏi thị trường, giải thể và chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải hoàn thành nhiều thủ tục, nghĩa vụ với cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Đối với người nộp thuế đã thực tế ngừng hoạt động nhưng còn thiếu hồ sơ khai thuế, còn tiền phạt, tiền chậm nộp, nợ thuế, lệ phí môn bài hoặc các nghĩa vụ tồn đọng khác, việc hoàn tất thủ tục theo quy trình thông thường gặp nhiều khó khăn.
Một số trường hợp nợ đã khoanh, nợ không có khả năng thu hoặc còn số tiền nộp thừa nhưng không còn chủ thể để xử lý cũng chưa có cơ chế kết thúc phù hợp.
Ở phía người nộp thuế, nhận thức và mức độ tuân thủ pháp luật về tạm ngừng, giải thể, chấm dứt hoạt động còn hạn chế. Có trường hợp tự ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ đăng ký mà không thông báo; không nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế, không phối hợp với cơ quan thuế hoặc lựa chọn bỏ địa chỉ vì cho rằng đơn giản hơn việc thực hiện thủ tục giải thể.
Khi ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm bộ máy, trả mặt bằng, không còn kế toán, con dấu, chữ ký số hoặc không lưu giữ đầy đủ sổ sách, hóa đơn, chứng từ. Người đại diện theo pháp luật có trường hợp đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi, xuất cảnh hoặc không thể liên hệ, dẫn đến không còn chủ thể thực hiện thủ tục.
Về phía cơ quan thuế, việc giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động tại một số địa bàn còn chậm; việc kiểm tra quyết toán, ban hành biên bản, kết luận và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế có trường hợp chưa kịp thời.
Nguồn lực xử lý chưa tương xứng với khối lượng hồ sơ tồn đọng. Công tác quản lý sau khi người nộp thuế bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký có thời điểm chưa được thực hiện liên tục, chưa gắn đầy đủ với rà soát hóa đơn, khai thuế, nợ thuế và các biện pháp xử lý tiếp theo. Công cụ cảnh báo sớm, phân loại rủi ro và theo dõi kết quả xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.
Dữ liệu và phối hợp liên ngành cũng là một nguyên nhân. Dữ liệu lịch sử trên các hệ thống quản lý có trường hợp thiếu, sai lệch hoặc không còn hồ sơ gốc; thông tin định danh, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật và trạng thái hoạt động giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa hoàn toàn đồng bộ.
Việc phối hợp xác minh, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoàn tất thủ tục giải thể và xử lý trường hợp đã được cơ quan thuế xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nhưng chưa hoàn tất tại cơ quan đăng ký kinh doanh còn chưa kịp thời.
Ngoài ra, một số trường hợp có tính chất đặc thù, phức tạp như doanh nghiệp giả mạo thông tin cá nhân, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn; đơn vị hành chính, sự nghiệp sau sắp xếp không xác định rõ chủ thể kế thừa nghĩa vụ; chi nhánh phụ thuộc có trạng thái hoặc nghĩa vụ khác với đơn vị chủ quản. Những trường hợp này không thể xử lý dứt điểm chỉ bằng quy trình chấm dứt hiệu lực mã số thuế thông thường.
Theo ông Nguyễn Đức Huy, để hạn chế tình trạng người nộp thuế “bỏ trôi” mã số thuế, cần kiểm soát ngay từ khâu đăng ký doanh nghiệp và đăng ký thuế. Theo đó, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế cần thực hiện đầy đủ việc xác thực, đối soát và kiểm soát các điều kiện nhằm ngăn ngừa việc sử dụng thông tin giả mạo hoặc thành lập pháp nhân mới để né tránh nghĩa vụ. Cùng với đó, cần tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Đối với cơ quan quản lý thuế, ông Nguyễn Đức Huy cho rằng cơ quan thuế các cấp cần thường xuyên rà soát, xác minh, phân loại; trường hợp có nợ thuế kéo dài, không hợp tác và đủ điều kiện thì lập hồ sơ đề nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo đúng trình tự, không để doanh nghiệp ở trạng thái 06 kéo dài nhưng không có biện pháp xử lý tiếp theo.
Cơ quan thuế cũng cần thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý nợ và xử lý nghĩa vụ thuế. Điều 17 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 xác định trách nhiệm của các cá nhân có liên quan đối với nghĩa vụ thuế doanh nghiệp chưa hoàn thành; Điều 72 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định việc cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với trường hợp thuộc diện áp dụng; khoản 1 Điều 21 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định các trường hợp xóa nợ.
Đối với người nộp thuế không còn sổ sách, hóa đơn, chứng từ, cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo Điều 24 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và các điều 36, 37, 38 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Việc áp dụng đầy đủ các quy định này sẽ khắc phục tình trạng hồ sơ bị treo kéo dài do không liên hệ được người nộp thuế hoặc không còn tài liệu để kiểm tra theo phương pháp thông thường.
Cơ quan thuế cần tăng cường công khai thông tin, kiểm soát hóa đơn điện tử và cảnh báo rủi ro. Khoản 3 và khoản 5 Điều 7 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Điều 4 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP đã quy định các trường hợp, nội dung, hình thức công khai thông tin người nộp thuế, trong đó có người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Thông tư số 91/2026/TT-BTC quy định cơ chế quản lý đăng ký thuế, cập nhật trạng thái mã số thuế và kiểm soát thông tin người đại diện; các quy định về hóa đơn điện tử cũng cho phép cảnh báo, kiểm soát trường hợp có rủi ro.
Cơ quan thuế cần khai thác dữ liệu khai thuế, hóa đơn, nợ thuế và biến động địa chỉ để cảnh báo sớm, xác minh trước khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ, đồng thời xử lý kịp thời các trường hợp có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc lợi dụng pháp nhân để vi phạm.
Việc liên thông, cập nhật kịp thời trạng thái pháp lý của doanh nghiệp cũng cần được thực hiện đồng bộ. Khoản 5 Điều 16 Thông tư số 91/2026/TT-BTC quy định việc cơ quan thuế cập nhật, chuyển trạng thái mã số thuế khi nhận được thông tin thu hồi giấy phép từ cơ quan có thẩm quyền; khoản 4 và khoản 5 Điều 7 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP cùng các điều 74 và 116 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định việc cung cấp, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý thuế và đăng ký doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan công an cần tổ chức đối soát định kỳ, xử lý sai lệch về thông tin định danh, địa chỉ, người đại diện và trạng thái hoạt động; bảo đảm trường hợp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế hoặc đã hoàn tất thủ tục giải thể được cập nhật ngay, không tiếp tục tồn tại “ảo” ở trạng thái 03, 06.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/lam-sach-ma-so-thue-xu-ly-ton-dong-qua-nhieu-thoi-ky/436599.html
