Làm 'sống lại' các dòng sông ô nhiễm: Không thể chỉ xử lý phần ngọn

Yêu cầu phục hồi các dòng sông đang được đặt trong cách tiếp cận tổng thể, không chỉ ở phạm vi một địa phương mà phải tính đến toàn bộ lưu vực, từ nguồn phát sinh nước thải đến khả năng tự làm sạch.

Kiểm soát chất lượng nguồn nước liên tỉnh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Kiểm soát chất lượng nguồn nước liên tỉnh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Ô nhiễm kéo dài tại nhiều dòng sông trong thời gian qua, cho thấy những giải pháp đơn lẻ, thiếu tính liên kết khó tạo chuyển biến bền vững.

Vì vậy, muốn phục hồi, từng bước trả lại "sức sống" cho các dòng sông, yêu cầu cấp thiết là kiểm soát tận gốc nguồn thải, đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải và khôi phục dòng chảy trên cơ sở quản lý tổng thể theo lưu vực.

Những dòng sông oằn mình trước sức ép xả thải

Những ngày nắng nóng, dọc các dòng sông nội đô Hà Nội (như Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu), mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, đặc biệt mỗi khi có gió. Tại một số đoạn, dòng nước đen kịt, vệt nước thải loang lổ từ các đường ống ven bờ vẫn âm thầm đổ xuống lòng sông, phơi bày áp lực ô nhiễm.

Trong câu chuyện với phóng viên, chị Nguyễn Thị Huyền (sinh sống tại khu vực phường Định Công), cho biết ngày nào đi qua khu vực sông Tô Lịch, đoạn cầu Dậu, chị cũng cảm thấy khó chịu bởi mùi hôi thối từ nước thải đen kịt dưới sông. Đáng lo ngại, không ít thời điểm, nước thải sinh hoạt và sản xuất vẫn theo những đường ống ven bờ xả trực tiếp xuống lòng sông.

Ngay cả khi diện mạo tuyến đường ven sông Tô Lịch, đoạn đường Láng, đã được chỉnh trang với không gian dành cho người đi bộ và những cụm vườn hoa, cảnh quan khang trang hơn, mùi hôi thối từ dưới sông vẫn khó chịu.

Từ góc độ cơ quan quản lý chuyên ngành, ông Nguyễn Minh Tấn - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, cũng nhìn nhận các dòng sông trên địa bàn, nhất là sông nội đô, đang chịu sức ép rất lớn từ quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

Tình trạng ô nhiễm trên là hệ quả của nhiều nguyên nhân tích tụ trong thời gian dài, trong đó nổi bật là lượng lớn nước thải chưa qua xử lý đổ vào sông; dòng chảy bị suy giảm; chức năng tự nhiên của dòng sông bị thu hẹp.

Bức tranh ô nhiễm tại các dòng sông cũng được thể hiện rõ qua các số liệu quan trắc. Theo báo cáo của Cục Môi trường, chất lượng nước các sông, hồ trên địa bàn Hà Nội nhìn chung ở mức thấp, nhiều khu vực ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng, không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Bốn dòng sông nội đô (Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu) đang bị ô nhiễm nặng, cơ bản đã hết khả năng tiếp nhận nước thải.

Đối với các dòng sông liên tỉnh, kết quả giám sát cho thấy toàn bộ các điểm quan trắc trên sông Nhuệ - Đáy thuộc địa bàn Hà Nội đều bị ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh vượt giá trị giới hạn mức B theo QCVN 08:2023/BTNMT. Đáng chú ý, đoạn từ Phúc La đến Đồng Quan trên sông Nhuệ thường xuyên ô nhiễm nặng, tương ứng mức D của quy chuẩn này.

Tổng lượng nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý tại các đô thị trên cả nước mới đạt khoảng 18%. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Tổng lượng nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý tại các đô thị trên cả nước mới đạt khoảng 18%. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải cũng chịu áp lực ô nhiễm, chủ yếu bởi các hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng. Vào mùa khô, mức độ ô nhiễm gia tăng; các điểm Thạch Bàn, Kiêu Kỵ trên sông Cầu Bây có chất lượng nước rất xấu, tương ứng mức D theo QCVN 08:2023/BTNMT.

Nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm các dòng sông, theo cơ quan chuyên môn thì vẫn là nước thải. Riêng khu vực đô thị Hà Nội phát sinh khoảng 1,1 triệu m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày đêm. Trong khi đó, thành phố hiện có 8 nhà máy, trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung đang vận hành, với tổng công suất gần 584.000 m3/ngày đêm. Khi các công trình và hệ thống thu gom được hoàn thiện, tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt có thể tăng lên 50-55%.

Đối với nước thải công nghiệp và làng nghề, tổng lượng phát sinh khoảng 75.000 m3/ngày đêm. Hiện có 41/70 khu, cụm công nghiệp có trạm xử lý nước thải; một số công trình chưa hoạt động hiệu quả. Đáng lưu ý, tình trạng xả nước thải, chất thải rắn vào sông, hồ và hệ thống thoát nước vẫn còn diễn ra.

Thực trạng trên cũng phản ánh bài toán chung trên cả nước khi tổng lượng nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý tại các đô thị mới đạt khoảng 18%; tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo số liệu rà soát gần đây là 34,7%, trong khi tỷ lệ này ở các làng nghề chỉ đạt 16,6%.

Và khi hạ tầng thu gom, xử lý chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa, dòng sông sẽ phải tiếp nhận lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch. Bởi vậy, muốn hồi sinh dòng sông, việc chỉnh trang cảnh quan hay nạo vét lòng dẫn là chưa đủ, mà phải bắt đầu từ kiểm soát nguồn thải và khôi phục dòng chảy.

Kiểm soát nguồn thải và khôi phục dòng chảy. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Kiểm soát nguồn thải và khôi phục dòng chảy. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Kết nối dữ liệu, phục hồi sức sống các dòng sông

Trước sức ép ô nhiễm nguồn nước ngày càng lớn, yêu cầu phục hồi các dòng sông đang được đặt trong cách tiếp cận tổng thể, không chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương mà phải tính đến toàn bộ lưu vực, từ nguồn phát sinh nước thải đến khả năng tiếp nhận và tự làm sạch của môi trường nước.

Tại buổi làm việc giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ngày 21/10/2026, công tác quản lý chất lượng nước cũng được đặt ra cùng yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước và phục hồi các dòng sông. Những vướng mắc về phối hợp liên tỉnh, đầu tư xử lý nước thải, vận hành công trình và chia sẻ dữ liệu được tập trung thảo luận.

Từ thực tế địa phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn, cho biết việc phục hồi các dòng sông liên tỉnh hiện còn vướng mắc về xác định cơ quan chủ trì, phân bổ nguồn lực, chia sẻ dữ liệu và vận hành công trình. Thành phố cũng thiếu hướng dẫn kỹ thuật về tái sử dụng nước thải sau xử lý để bổ sung nguồn nước, phục hồi sông, hồ đô thị.

Do đó, Hà Nội đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoặc điều phối theo thẩm quyền chương trình phục hồi các dòng sông liên tỉnh, làm rõ trách nhiệm và cơ chế huy động, phân bổ vốn giữa các địa phương; hỗ trợ quan trắc, kết nối dữ liệu theo lưu vực và hướng dẫn kiểm soát chất lượng nguồn nước liên tỉnh, đặc biệt đối với hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.

Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng nước sông. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng nước sông. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Một trong những hướng đi cụ thể là kiểm soát ô nhiễm sông Cầu Bây, nguồn gây ô nhiễm chính cho hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Quá trình phối hợp chuyên môn giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và thành phố đã tạo cơ sở triển khai dự án xử lý ô nhiễm dòng sông này.

Trong quá trình xây dựng đề án kiểm soát, xử lý ô nhiễm gắn với phát triển tổng thể hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, bộ cũng đã góp ý về quy mô, vị trí nhà máy xử lý nước thải và việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật.

Gần đây, ngày 9/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên tổ chức khởi công Dự án nâng cấp, cải tạo, gia cố kênh Kim Sơn từ cống Báo Đáp đến cống Kênh Cầu, thuộc Dự án nâng cấp, hiện đại hóa và cải thiện môi trường nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Dự án hướng tới cải thiện môi trường nước và nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống.

Ở quy mô lưu vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã rà soát, thống kê 174 nguồn thải trên địa bàn Hà Nội thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, gồm khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, khu đô thị và làng nghề. Bộ cũng tổ chức đánh giá sức chịu tải môi trường nước mặt, xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng nước sông Hồng, Nhuệ - Đáy và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải giai đoạn 2026-2030.

Đầu tư các trạm quan trắc theo quy hoạch. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đầu tư các trạm quan trắc theo quy hoạch. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Thứ trưởng Lê Trọng Yên cho biết bộ sẽ khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch quản lý chất lượng nước các dòng sông. Việc công bố khả năng chịu tải của môi trường nước mặt sẽ giúp Hà Nội và các địa phương liên quan xác định giải pháp bảo vệ nguồn nước phù hợp. Cùng với đó, tăng cường phối hợp quan trắc, chia sẻ dữ liệu tài nguyên nước, vận hành hồ chứa và đầu tư các trạm quan trắc theo quy hoạch.

Những bất cập về quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, theo ông Yên, cũng cần được rà soát, hoàn thiện theo lộ trình, tạo cơ sở để địa phương xây dựng đơn giá và triển khai các dự án phục hồi nguồn nước.

Đối với Hà Nội, yêu cầu đặt ra là đẩy nhanh kế hoạch kiểm soát, xử lý ô nhiễm sông Cầu Bây đến năm 2030, xử lý tận gốc nguồn gây ô nhiễm gắn với hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Vì thế, thành phố cần ban hành định mức, đơn giá thu gom, xử lý nước thải áp dụng trên toàn địa bàn, đồng thời xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù để thu hút doanh nghiệp đầu tư, vận hành hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.

Cùng với xử lý nguồn thải, việc bổ sung nguồn nước và duy trì dòng chảy được xác định là giải pháp quan trọng.

Hà Nội đang điều chỉnh quy trình vận hành cống Thanh Liệt và trạm bơm Yên Sở nhằm bảo đảm điều tiết, thoát nước phù hợp; xây dựng trạm bơm Liên Mạc để chủ động bổ sung nguồn nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ, duy trì dòng chảy và cải thiện khả năng tự làm sạch của dòng sông.

Cần xử lý tận gốc nguồn gây ô nhiễm. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Cần xử lý tận gốc nguồn gây ô nhiễm. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Gần đây, Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, cũng đã xác định mục tiêu đến năm 2030 tập trung xử lý, phục hồi các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị đặc biệt, ô nhiễm nước tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ, đoạn sông. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương thúc đẩy những giải pháp mang tính đột phá.

Tuy nhiên, phục hồi các dòng sông không thể chỉ trông chờ vào một vài dự án đầu tư hay những đợt ra quân xử lý ô nhiễm.

Thực tế cho thấy, nếu nguồn thải vẫn tiếp tục xả xuống sông, hệ thống thu gom không đồng bộ, công trình xử lý thiếu kinh phí vận hành và dòng chảy không được duy trì, những nỗ lực cải tạo sẽ khó tạo ra chuyển biến bền vững. Bởi vậy, điều quan trọng là phải chuyển từ xử lý ô nhiễm đơn lẻ sang quản lý chất lượng nước theo lưu vực; gắn kiểm soát từng nguồn thải với đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý, vận hành công trình và phục hồi dòng chảy.

Khi trách nhiệm được xác định rõ, dữ liệu được kết nối và nguồn lực được bố trí tương xứng, những dòng sông từng bị bức tử mới có cơ hội hồi sinh./.

Kiểm soát từng nguồn thải với đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Kiểm soát từng nguồn thải với đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/lam-song-lai-cac-dong-song-o-nhiem-khong-the-chi-xu-ly-phan-ngon-post1146141.vnp