Làm thế nào để đưa đặc sản vùng cao vươn ra thế giới?
Đặc sản vùng cao mang trong mình hương vị, bản sắc và câu chuyện riêng, nhưng để vươn ra thị trường quốc tế, sản vật phải được chuẩn hóa từ vùng nguyên liệu, sản xuất đến truy xuất, bao bì, logistics và thương hiệu. Đây là hành trình nhiều thách thức với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất miền núi.
Từ sản vật bản địa đến hàng hóa có giá trị
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều lợi thế để tiếp cận thị trường quốc tế, từ điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu, giá trị dinh dưỡng đến xu hướng tiêu dùng xanh, tự nhiên, hữu cơ.
Đặc biệt, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa cộng đồng là yếu tố tạo khác biệt. Trà Shan tuyết là một ví dụ. Những cây trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi không thể chạy theo sản lượng đại trà, nhưng phía sau mỗi sản phẩm là câu chuyện về núi rừng, cộng đồng và nghề truyền thống. “Người tiêu dùng không chỉ mua trà để uống, mà phía sau đó còn là một câu chuyện”, ông Nguyễn Minh Tiến cho hay.

Khám phá hơn 100 đặc sản Cao Bằng tại Hà Nội
Vì vậy, thay vì cạnh tranh về sản lượng với hàng hóa công nghiệp, đặc sản vùng cao cần được định vị ở những phân khúc phù hợp như sản phẩm cao cấp, quà tặng, sản phẩm trải nghiệm gắn với văn hóa và vùng đất.
Miến dong Tài Hoan là một trường hợp tiêu biểu. Từ nghề truyền thống gắn với cây dong riềng của đồng bào Tày, Nùng, hợp tác xã Miến dong Tài Hoan từng bước xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với người dân, đầu tư nhà xưởng, máy móc và kiểm soát quy trình.
Hiện hợp tác xã có khoảng 70ha vùng nguyên liệu, liên kết với khoảng 700 hộ dân. Sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia. Lô hàng đầu tiên 5,3 tấn được xuất khẩu sang Cộng hòa Séc, sau đó tiếp tục đến Mỹ, Australia và Hàn Quốc, với tổng lượng xuất khẩu hơn 40 tấn.
Bà Trần Minh Anh, đại diện hợp tác xã cho biết, để có một lô hàng xuất khẩu, đơn vị có khi phải mất hơn một năm gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và các thủ tục liên quan.
“Yếu tố quyết định thành công không chỉ là sản phẩm ngon, mà là khả năng biến chất lượng truyền thống thành một quy trình sản xuất có thể kiểm soát và chứng minh được”, bà Minh Anh chia sẻ.
Theo ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhiều doanh nghiệp có sản phẩm tốt nhưng chưa thực sự sẵn sàng về năng lực xuất khẩu.
Điểm yếu nằm ở tổ chức sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, bao bì, thương hiệu và phân phối.
“Chúng ta có sản phẩm, có những sản vật vùng cao khác biệt với thế giới, có những câu chuyện văn hóa rất tốt. Nhưng để tạo thành một thị trường ổn định, phải bảo đảm chất lượng, quy trình sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc”, ông Nam nói.

Miến dong Tài Hoan xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, ba nhóm điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ là chuẩn hóa chất lượng và kiểm định; hoàn thiện vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, mã vùng trồng và cơ sở chế biến; cuối cùng là mẫu mã, bao bì và quy cách sản phẩm.
Một gói miến 1kg có thể phù hợp với gia đình Việt Nam nhưng chưa chắc phù hợp với người tiêu dùng Nhật Bản, Australia hay châu Âu. Bao bì phải đáp ứng ngôn ngữ, quy định pháp lý và thị hiếu từng thị trường. “Không thể bán những gì mình có mà phải quan tâm đến nhu cầu của thị trường”, ông Tô Hoài Nam nhấn mạnh.
Mở cánh cửa thị trường bằng liên kết và công nghệ
Tại Gia Lai, cà phê, hồ tiêu, mắc ca, hạt điều và dược liệu là những sản phẩm có thế mạnh. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Bích Thu, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Gia Lai, phần lớn sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số mới tham gia chuỗi xuất khẩu ở khâu cung cấp nguyên liệu.
Một số dòng cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản đã bắt đầu xuất khẩu trực tiếp, song dư địa tại châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn còn lớn.
“Vùng nguyên liệu của tỉnh Gia Lai thực sự rất tốt và phù hợp để trồng, chế biến theo quy chuẩn hữu cơ để sản xuất ra những sản phẩm chất lượng đưa ra thị trường”, bà Thu cho biết.
Theo bà Thu, cần có doanh nghiệp lớn đóng vai trò đầu chuỗi, liên kết với nông hộ, hướng dẫn sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu và tổ chức chế biến theo tiêu chuẩn.
Từ câu chuyện miến dong Tài Hoan, bài học về liên kết càng rõ. Hợp tác xã tổ chức chuỗi từ người dân trồng dong, hướng dẫn kỹ thuật, ký hợp đồng bao tiêu đến chế biến, xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm ra thị trường.
Nhờ đó, giá trị quay trở lại vùng nguyên liệu. Có hộ dân thu nhập khoảng 40-50 triệu đồng/năm từ cây dong riềng; hợp tác xã tạo việc làm cho khoảng 30 lao động thường xuyên và 20 lao động thời vụ.
“Chúng tôi mong muốn khi một người tiêu dùng ở châu Âu mua một gói miến Tài Hoan, họ không chỉ nhìn thấy một sản phẩm thực phẩm mà còn nhìn thấy phía sau đó là một vùng nguyên liệu, một làng nghề, những người nông dân vùng cao và nỗ lực giữ nghề, tạo sinh kế”, bà Minh Anh chia sẻ.
Cùng với liên kết sản xuất, thương mại điện tử đang mở thêm cánh cửa cho nông sản vùng cao.

Khoai sâm đã giúp bà con xã Sìn Hồ vươn lên thoát nghèo.
Tại Sìn Hồ, Lai Châu, giữa mùa thu hoạch khoai sâm, sản phẩm từ những vườn trồng trên núi được tập kết về kho, đóng gói rồi xuất hiện trên các phiên livestream. Theo anh Nguyễn Đức Duy, một thương lái từ Bắc Hà (Lào Cai), có ngày chốt khoảng 100 đơn, lượng khoai bán trung bình khoảng một tạ.
Chị Hứa Thị Xuyên, người mới tham gia livestream, cũng có ngày bán khoảng 50 đơn; những phiên cao điểm vượt 100 đơn.
Chị Phạm Thị Hà, chủ cơ sở kinh doanh tại xã Sìn Hồ cho biết, có ngày cao điểm tiêu thụ 20-25 tấn khoai sâm. Từ điểm tập kết, sản phẩm được đưa tới Phú Thọ, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và nhiều tỉnh, thành phía Nam.
Ở bản Mao Sao Phìn, ông Hạng A Lầu, người Mông, chuyển khoảng 6.000m² đất trồng ngô hiệu quả thấp sang khoai sâm. Vụ đầu tiên mang lại khoảng 20 triệu đồng và thương lái tìm đến tận vườn thu mua.
Theo ông Trần Văn Tuyển, Trưởng phòng Kinh tế xã Sìn Hồ, địa phương có khoảng 250ha trồng khoai sâm. Với lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng, xã khuyến khích người dân chuyển đổi cây trồng phù hợp, trong đó có khoai sâm và cây dược liệu.

Các phiên livestream trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk thu hút hơn 4,25 triệu lượt xem, chốt 8.715 đơn hàng, mang về doanh thu hơn 11 tỷ đồng.
Tại Đắk Lắk, livestream cũng đang trở thành kênh xúc tiến thương mại hiệu quả. Trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026, các phiên livestream thu hút hơn 4,25 triệu lượt xem, chốt 8.715 đơn hàng, doanh thu hơn 11 tỷ đồng.
Riêng Krông Năng tổ chức 8 phiên, đạt hơn 1,4 triệu lượt xem, chốt hơn 6.663 đơn hàng, tiêu thụ khoảng 32,8 tấn sầu riêng. Tại Ea Knuếc, một phiên livestream còn kết nối đơn hàng từ khách Trung Quốc tương đương 6 container sầu riêng.
Những con số này cho thấy livestream đang chuyển từ quảng bá đơn thuần sang một kênh bán hàng trực tiếp, rút ngắn khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

Cao Bằng sẽ hỗ trợ các cơ sở hoàn thiện tiêu chuẩn, nâng cao năng lực sản xuất, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Với Cao Bằng, yêu cầu mở rộng thị trường cũng đang gắn với thương mại điện tử. Theo chị Nguyễn Thị Hương Nhung, Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng, địa phương có gần 200 sản phẩm OCOP 3 sao, 4 sao cùng nhiều sản phẩm dược liệu, hàng thủ công của đồng bào dân tộc thiểu số.
Tham gia chương trình “Sức sống hàng Việt”, tỉnh Cao Bằng giới thiệu hơn 100 sản phẩm. Theo chị Nhung, đây không chỉ là dịp quảng bá mà còn giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh lắng nghe thị trường, hoàn thiện chất lượng, mẫu mã và từng bước làm quen với livestream, bán hàng trên nền tảng số.
Khó khăn hiện nay là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tiêu chuẩn chưa đồng bộ, nhiều sản phẩm chưa có bộ nhận diện chung. Do đó, địa phương cần tiếp tục hỗ trợ người dân cập nhật tiêu chuẩn, ổn định chất lượng, sản lượng và nâng cao kỹ năng số.
Từ chè Shan tuyết, cà phê Tây Nguyên đến khoai sâm Sìn Hồ, đặc sản vùng cao chỉ thực sự tạo giá trị khi được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Cùng với thương mại điện tử, sự đồng hành của chính quyền, người dân và doanh nghiệp sẽ giúp sản vật địa phương vươn xa, tạo thêm sinh kế và động lực phát triển bền vững.
Nguồn CAND: https://cand.vn/lam-the-nao-de-dua-dac-san-vung-cao-vuon-ra-the-gioi-post822057.html
