Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: 'Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm'.

Phố Sinh Từ đầu thế kỷ XX gắn với giai thoại về bức hoành phi của nhà thơ Yên Đỗ - ảnh tư liệu.

Phố Sinh Từ đầu thế kỷ XX gắn với giai thoại về bức hoành phi của nhà thơ Yên Đỗ - ảnh tư liệu.

Mà bị "trời phạt" như Vũ Bằng thì tốt quá. Nhờ thế, chúng ta mới có được tuyệt bút “Thương nhớ mười hai”. Trên đời này, ai cũng thừa biết “Sông có khúc, ngưới có lúc”, có lúc này lúc kia chứ đâu phải lúc nào cũng hanh thông, thuận buồm xuôi gió, nhất là về vấn đề sức khỏe. Đừng lo, đâu lại vào đấy thôi; có tự tin như thế người ta mới có thể lạc quan “hóa giải” những gì không như ý. Mà, có lẽ một trong những chuyện éo le nhất còn là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Thật đấy, ta hãy đọc lại bài thơ “Chỗ đâu ấm cúng” của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn.

Biệt tăm cha mấy năm trời

Được thư bà nội vội rời quê xa

Lên thăm xào xáo trong nhà

Thật cha không biết đàn bà giống chi

Mẹ con bản mặt lầm lì

Bà con mắc chứng xầm xì suốt đêm

Sống chung càng khổ nhau thêm

Chỗ đâu ấm cúng cho mềm tuổi thơ

Đọc thấy hiện lên hình ảnh gã đàn ông vò đầu bứt tóc đang than thở với thằng con. Có cả thẩy 4 nhân vật. Chẳng rõ lúc ấy cậu con trai nghĩ gì? Chỉ biết, khi lớn lên cậu xuất gia đi tu và cũng làm thơ. Có lẽ, cuộc chiến "nàng dâu - mẹ chồng" chỉ mới phản ánh qua ca dao, tục ngữ chưa có nhiều nhà thơ khai thác chăng? Tôi thích bài thơ này vì lẽ đó. Lại thích những câu thơ này của nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh:

Giọt mưa làm ướt nỗi buồn

Hay buồn làm ướt tâm hồn giọt mưa?

Theo nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả “Thức cùng bóng tối” hiện sống tại Hà Nội: “Năm 15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Việt Anh mắt đang sáng rỡ như mọi người đã bị ngã đứt dây thần kinh thị giác, hỏng hai con mắt, bị mù. Nghĩa là suốt cả chục năm nay Nguyễn Việt Anh sống toàn phần trong bóng tối”. Đọc những câu thơ hay, lòng nhẹ nhàng. Tự dưng thấy rằng, biết rằng đâu đó trong dòng đời chảy xiết vẫn còn những tâm hồn đau đáu với thơ.

Thử hỏi, giữa một người yêu thơ và người mê danh, ai đáng quý hơn? Khó có thể tìm ra câu trả lời chung, tùy suy nghĩ của mỗi người. Chỉ biết rằng, sử sách còn bia miệng bọn trọc phú háo danh, chẳng hạn, Nguyễn Hữu Độ (1813 - 1888) đậu tiến sĩ năm 1883, làm quan từ Thượng thư đến Phụ Chính đại thần, Cơ mật viện đại thần… Lúc ngất ngưởng trên danh vọng, Độ đã dùng uy quyền xây dựng Sinh Từ đền nhằm thờ sống mình, đoạn đường này được gọi phố Sinh Từ. Theo “Đại Nam thực lục”, việc xây dựng diễn ra trong khoảng thời gian 1882 - 1884, lúc Độ làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội-Ninh Bình) tốn hơn một vạn quan tiền.

Lúc ấy, nhiều người đến xin nhà thơ Yên Đỗ mấy chữ vàng ngọc để làm hoành phi mừng. Khi người ta đang lên voi, thiên hạ bấu vào là lẽ thường tình. Cụ Yên Đỗ cho 3 chữ “Sinh sự chi”. Ai nấy đều khen hay, bởi 3 chữ này rút từ câu “Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế, chi dĩ lễ” trong “Thiên vi chính” của sách “Luận Ngữ” - có nghĩa khi cha mẹ sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an táng, khi cúng tế cũng phải theo đúng lễ. Nghe thì hay lắm, nhưng đây là thâm ý của bậc đại khoa. “Sinh sự chi” như lời mắng thẳng vào cái mặt háo danh hợm hĩnh kia!

Tiếng Việt của mình đó. Thật biến hóa khôn lường, khi trước chuyện gì đó không ưng ý, có người bình luận “Sinh sự chi” thỉ ta ngầm hiểu la câu mắng, chứ nào đơn thuần chỉ là câu hỏi. Câu mắng đó là “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Nay người ta nhớ gì đến xú danh Nguyễn Hữu Độ?

Đền miếu thờ ai lộng lẫy thay!

Thờ ông "thứ nhất quận công" đây.

Ông còn, mũ áo hàng năm họp,

Không được dự buồn, được dự may.

Ông mất, mũ áo không họp nữa,

Lửa hương lạnh ngắt, lúa mọc đầy.

Có ông "thứ nhì không tên" đến

Sớm hôm chống gậy vào chốn này.

Trên đời suy thịnh thường như vậy,

Biết nay chín suối ông theo ai?

Đây là bài thơ chữ Hán Quá quận công Hữu Độ Sinh Từ hữu cảm (Cảm nghĩ lúc qua Sinh Từ Quận công Nguyễn Hữu Độ) của cụ Yên Đỗ, Nguyễn Văn Tú dịch. Đọc bài thơ này, lại nhớ câu tục ngữ quen thuộc: “Thứ nhất quận công, thứ nhì ị đồng”. Không phải giải thích gì thêm.

Nhà văn Bích Ngân - Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh gửi tặng tôi vài tập sách mới. Trong số ấy, tôi thích nhất là tập “Niềm tin chưa mất” (NXB Văn hóa - Văn nghệ), tuyển chọn lại những sáng tác của nhà văn Võ Hồng viết trước năm 1975. Năm 1936, nhà văn “Trầm mặc cây rừng” học lớp Nhất trường Tiểu học Sông Cầu. Đây là hình ảnh người thầy năm tháng đó qua trí nhớ của Võ Hồng. Ông tả rõ từng chi tiết, ta hãy đọc để thấy đâu là yếu tố làm nên… nhà văn?

“Thầy thường mặc Âu phục trắng. Giày nâu, đế cao su. Mũ casque cứng lợp vải màu kaki. Ði tới lớp, tay ôm cặp da, thứ da cá sấu mềm. Thời đó Âu phục và Nam phục song song tồn tại. Nam phục là quần trắng áo dài đen. Quần trắng bằng vải "tàu bay" hay lụa. Vải áo dài đen thông thường là vải trang đầm cho đàn bà và học sinh trung lưu. Người đàn ông thì mặc áo lương đen (miền Bắc gọi là áo the), áo xuyến (mặt láng), áo sa văn minh (một loại the mỏng, dệt có vân, có bắt hình bìm bìm) áo sa tanh (satin). Vải may Âu phục tiêu chuẩn là một loại vải dệt thật dày bằng sợi đay, màu trắng.

Sau đại chiến thế giới thứ hai, sợi tổng hợp Polyester mới thịnh hành và vải thường màu đen hoặc màu xanh tối gần với đen. Phép xã giao thời đó đòi hỏi phải khoác áo vét-tông chứ không được chỉ mặc sơ-mi khi đi ra ngoài. Cho dẫu trời nóng 35 độ. Chỉ có thể, khi ngồi trong lớp dạy hay ngồi làm việc ở bàn giấy, cởi áo vét-tông ra máng vào thành ghế. Ðôi giày cũng có lịch sử của nó. Cũng sau đại chiến thế giới thứ hai, màu giày đen mới thịnh hành. Dưới thời Pháp thuộc, màu giày sậm nhất là màu nâu, màu cà-phê rang. Lợt một chút là màu vàng thiên nhiên của da thuộc. Lợt nhất là màu trắng. Duyên dáng ăn diện là giày hai màu. Giày màu đen chỉ được dùng trong những đại lễ”.

Tất cả chi tiết thú vị này cho thấy nhà văn trước hết cần phải có trí nhớ tốt. Có nhớ thì mới kể lại những gì đã xảy ra vài chục năm trước. Không những thế, còn phải đọc nhiều. Đã từ lâu tôi rất thích ca từ của Phạm Duy: “Như con giun ngước lên trời, yêu trăng sao vời vợi. Làm sao nói được tình tôi?”. Những kẻ thất tình, đớn đau gan ruột, khi nghe ai đó cất lên tiếng hát ắt ôm mặt khóc hu hu suốt đêm dài cho đến rạng sáng. Có phải đây là suy nghĩ sáng tạo của Phạm Duy?

Khi đọc quyển “Những sự gặp gỡ của Đông phương & Tây phương trong ngôn ngữ & văn chương” của Vũ Bội Liên (1912-1947). Trong đó, ông Liên có nhắc đến: “Kẻ si tình của Victor Hugo tự ví mình như một con giun khốn nạn dám mê một vì sao: “Misérable ver de terre amoureux d'une étoile”. Rõ ràng, Phạm Duy viết ca từ trên do ảnh hưởng từ văn hóa PhápTrường hợp câu thơ “Yêu là chết trong lòng một tí” của Xuân Diệu cũng tương tự là do ảnh hưởng từ câu Partir cest mourir un peu (Đi, là chêé̈t trong lòng một tí) của nhà văn Pháp Roland Dorgelès. Đọc nhiều, đôi khi nhập vào trí nhớ, cứ ngỡ của mình là vậy.

Trở lại với đoạn văn của nhà văn Võ Hồng, ta thấy hình ảnh người thầy ngày trước vừa gần gũi nhưng cũng vừa có nét riêng nữa. Không riêng nhà văn Võ Hồng, bạn bè văn nghệ của tôi cũng có nhiều người vốn nhà giáo như nhà văn, nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Thái Dương, Từ Nguyên Thạch, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Nhật Ánh, Đoàn Vị Thượng, Đoàn Vy…

Tuy nhiên, chỉ có vài người viết tiểu phẩm trào phúng, chẳng hạn anh Nguyễn Nhật Ánh với bút danh Đề Lĩnh. Đọc lại tiểu phẩm “Nói có sách, mách có… sổ” của Đề Lĩnh xem sao. Trong đó, anh có kể thập niên 1980, giáo viên trung học phải sắm các loại sổ như Sổ ghi điểm, Sổ công tác, Số kế hoạch hằng tuần, Sổ báo giảng, Sổ dự giờ… Do quá nhiều sổ nên thời bao cấp: “Có lần đi mua gạo thay vì đem Sổ lương thực, tôi đem lộn Sổ kế hoạch hằng tuần, khiến bà bán gạo la om sòm: “Ở đây bán gạo hằng tháng chứ không có bán hằng tuần”. Có thể cười nổi không?

Thì ra, đã mấy chục trôi qua với biết bao cải cách, thay đổi đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Thôi thì, cứ tâm niệm như nhà giáo Võ Hồng đã viết: “Gắng tạo niềm cảm thông, niềm an ủi cho các thầy cô giáo để ngày ngày họ dạy dỗ con của bạn trong niềm vui. Cũng dễ hiểu thôi mà: khi có nước mát tưới đều, bụi thúy cúc nở những đóa hoa rực rỡ. Và con của bạn đang ngồi vây quanh, hưởng hương sắc của hoa. Còn thầy cô giáo cũ thì có mong chờ gì ở bạn đâu? Vì vậy mà một lời thăm hỏi đủ đem lại niềm vui thanh khiết”.

Lê Minh Quốc

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/so-tay/lan-man-ve-nghe-viet-i802860/