Làng Dọc không học cũng hay
Trong các làng khoa bảng của nước ta, hiếm nơi nào được dân gian ưu ái gắn với lời khen 'không học cũng hay' như làng Dọc.

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Thị Duệ bên dãy Phượng Hoàng.
Làng Dọc (tức Kiệt Đoài), xưa thuộc Chí Linh (Hải Dương), nay là phường Chu Văn An (TP Hải Phòng), không chỉ nổi tiếng qua câu truyền khẩu ấy mà còn là vùng đất học trứ danh của xứ Đông, với 8 vị đại khoa và hàng trăm người đỗ trung khoa, tiểu khoa.
Làng cổ ven sông Kinh Thầy
Theo sử chí địa phương, làng Dọc nằm ven sông Kinh Thầy – một tuyến đường thủy quan trọng trong lịch sử. Không gian cư trú gắn với thế “trên bến, dưới thuyền”, cùng sự hiện diện lâu đời của chợ Dọc. Nhiều tư liệu cho thấy nơi đây từng có thuyền bè qua lại tấp nập, hình thành điểm trao đổi hàng hóa khá sầm uất.
Các phát hiện khảo cổ tại khu vực Kiệt Đoài ghi nhận dấu tích những lò gốm cổ phân bố dọc bờ sông. Di vật thu được gồm đồ gia dụng, vật liệu kiến trúc và nhiều loại hình gốm có niên đại trải dài qua các thời kỳ, cho thấy hoạt động thủ công và sản xuất hàng hóa tồn tại bền bỉ. Sự kết hợp giữa sản xuất, giao thương và cư trú ổn định đã tạo nên một cộng đồng có điều kiện phát triển việc học hành, thi cử thời phong kiến.
Dấu tích văn hóa của làng Dọc còn hiện diện tại đình Kiệt Đoài. Theo tư liệu, đình được dựng từ lâu đời theo kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung. Trải qua thời gian và biến thiên lịch sử, đình bị tàn phá, hiện chỉ còn 3 gian Hậu cung cơ bản giữ được phong cách kiến trúc thời Nguyễn.
Hệ thống bia ký còn lưu tại di tích cho biết đình từng được trùng tu vào các năm: Vĩnh Hựu thứ 4 (1738), Cảnh Hưng thứ 37 (1776), Minh Mệnh thứ 17 (1836), Thiệu Trị thứ 4 (1844) và Bính Ngọ - Thành Thái 18 (1906).
Đình Kiệt Đoài thờ Tiên triều công chúa Thân Thị Tâm (hiệu Diệu Tâm). Theo truyền thuyết, bà cùng em trai là Tiên triều Đại Vương và em gái là công chúa Lương Chinh tham gia chống giặc phương Bắc, sau đó tử trận, thi thể trôi dạt về bờ sông Kinh Thầy.
Nhân dân các làng Kiệt Đoài, Kỳ Đặc, Kiệt Thượng lập miếu, dựng đình thờ tự và tôn làm Thành hoàng. Tại Kiệt Đoài, Thân Thị Tâm được thờ với tư cách Thành hoàng chính. Ngoài ra, đình còn phối thờ một số nhân vật lịch sử gắn với vùng đất này như Chu Văn An, Trần Quốc Chẩn và Nguyễn Quý Minh.
Hiện đình lưu giữ nhiều di vật, cổ vật từ thời Lê đến thời Nguyễn như ngai thờ, bát bửu, long đình, bát hương, cùng một đạo sắc phong và năm tấm bia đá. Hệ thống này cung cấp tư liệu về chế độ ruộng đất, công điền, phong tục tập quán và quá trình tu bổ di tích qua các thời kỳ, đồng thời phản ánh sự đóng góp của các thế hệ cư dân địa phương trong việc gìn giữ giá trị văn hóa.
Các bia đá, sắc phong và di vật tại đình cũng ghi nhận lịch sử làng, trong đó có công trạng của các cá nhân, dòng họ, bao gồm những người đỗ đạt trong khoa cử.

Tinh Phi cổ tháp - tháp mộ 'Bà chúa Sao Sa' Nguyễn Thị Duệ.
Trai thì Tiến sĩ, gái thì Trạng nguyên
Theo các nguồn tư liệu địa phương và đăng khoa lục, làng Dọc có 8 người đỗ đại khoa, gồm Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Phong, Nguyễn Quang Trạch, Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Quang Hạo… cùng hàng trăm người khác đỗ trung khoa, tiểu khoa, làm thầy đồ, thầy thuốc.
Làng Dọc cũng là quê hương của nữ Trạng nguyên duy nhất trong lịch sử khoa bảng. Trong dân gian, bà được gọi là “Bà Chúa Sao Sa” - danh xưng gắn với tài năng và vị thế đặc biệt của bà trong xã hội đương thời.
Theo tư liệu, Nguyễn Thị Duệ sinh năm 1574 trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Từ nhỏ, bà nổi tiếng thông minh, sớm bộc lộ năng lực văn chương. Trong bối cảnh phụ nữ không được học hành, thi cử, bà đã cải trang nam giới để theo đuổi con đường khoa bảng.
Khi triều đình mở khoa thi tìm kiếm nhân tài, Nguyễn Thị Duệ lấy tên Nguyễn Ngọc Du, giả trai đăng ký dự thi. Qua các kỳ thi Hương, Hội và Đình, bà đều đỗ đầu, trở thành Trạng nguyên (có tài liệu cho rằng vào khoa Giáp Ngọ - 1594), khi mới khoảng 17-20 tuổi.
Khi thân phận được phát hiện trong buổi thiết yến dành cho tân khoa, bà không bị xử phạt mà còn được nhà vua ghi nhận tài năng. Sau đó, bà được mời vào cung giảng dạy cho các phi tần, được tuyển làm phi và phong hiệu Tinh Phi. Danh xưng “Bà Chúa Sao Sa” trong dân gian cũng xuất phát từ đây.
Năm 1625, quân Lê - Trịnh tiến lên Cao Bằng diệt nhà Mạc, vua Mạc bị bắt đưa về Thăng Long. Nguyễn Thị Duệ về ở ẩn tại chùa Sùng Phúc (phía đông Cao Bằng), vừa trụ trì, vừa dạy học và dạy lễ nghĩa cho con em địa phương.
Trong một lần quân Trịnh truy lùng tàn quân Mạc, nơi bà ẩn náu bị phát hiện. Bà bị bắt, giải về phủ chúa Trịnh. Nhờ tài đối đáp khiêm nhường nhưng sắc sảo, bà thoát tội chết, được đưa về Thăng Long và đối đãi tử tế.
Theo ghi chép, bà được giao đảm nhiệm các công việc liên quan đến giáo dục trong phủ chúa. Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Vua Lê triệu vào dạy cung nữ, phong cho tước hiệu là Nghi Ái quan”. Khi làm quan, bà thường viện dẫn kinh sử, điển tích rõ ràng nên được chúa Trịnh Tráng và Trịnh Tạc trọng vọng. Nhiều biểu sớ, văn bài thi Đại khoa cũng được giao cho bà khảo duyệt.
Sử sách còn ghi lại, khoa thi năm Tân Mùi (1631) có một bài văn đặc biệt của sĩ tử khiến quan trường khen ngợi nhưng khó hiểu. Khi được hỏi, bà đã giải thích rõ các điển tích, ý tứ trong bài, giúp sĩ tử ấy đỗ đầu.
Theo “Những người thầy trong sử Việt”, danh tiếng của Trạng nguyên Nguyễn Thị Duệ vang xa. Quan tâm đến việc học ở quê nhà, bà cấp tiền lập Văn Hội tại Chí Linh, tạo điều kiện để con em trong vùng đến học tập.
Tại nhà thờ họ Nguyễn, nhiều sách cổ kim được lưu giữ để mọi người cùng đọc. Vào ngày mùng một và ngày rằm hằng tháng, sĩ tử lại tụ họp, chờ ngựa trạm mang đề bài do bà gửi về. Làm bài xong, các bài thi được niêm phong, chuyển về kinh để bà chấm. Nhờ vậy, quê hương bà trở thành điểm sáng về học hành, đỗ đạt.
Năm 70 tuổi, Nguyễn Thị Duệ xin trí sĩ, trở về quê Chí Linh dựng am Đàm Hoa. Đây vừa là nơi ở, đọc sách, tĩnh tu, vừa như một trường học của làng. Sĩ tử trong vùng hằng ngày đến nghe bà giảng giải kinh nghĩa. Dù được nhà Lê cấp thuế trong làng làm ngụ lộc, bà chỉ giữ lại một phần nhỏ để chi tiêu, còn lại dành cho việc công ích, giúp đỡ người nghèo.
Bà mất ngày 8/11/1654, thọ 81 tuổi, được an táng tại quê nhà. Ngọn tháp trên mộ gọi là “Tinh Phi cổ tháp”, khắc mười chữ: “Lễ Phi sinh thông tuệ, nhất kính chiếu tam vương” (Lễ phi là người thông tuệ, một gương soi chiếu ba vua).
Ghi nhớ công ơn, dân làng Kiệt Đặc dựng đền thờ, tôn bà làm phúc thần. Trên bức hoành có hai chữ “Hoa Am”, bên trong đặt tượng bà cùng đôi câu đối: “Giá khoa tiên chiếm Cao Bình bảng/ Đại bút do truyền bát cổ bi”. Tại Văn Miếu Mao Điền, trong 637 vị Tiến sĩ được thờ, có bài vị của nữ Tiến sĩ duy nhất mang tên “Nghi Ái quan Nguyễn Thị Duệ”.
Theo “Công dư tiệp ký”, văn thơ của bà rất nhiều nhưng nay không còn lưu lại. Bà từng viết bài Gia ký bằng Quốc âm, thuật lại chuyện riêng và tự ví mình với Bạc Thị. Trong đó có những câu:
“Kém gì một chút đảo điên/
So le Bạc Thị vốn duyên Hán hoàng/
Nữ nhi dù đặng có lề/
Ắt là tay thiếp kém gì Trạng nguyên”.

Một trang 'Chí Linh huyện tiên hiền sự tích' ghi giai thoại Tiến sĩ Nguyễn Doãn Khâm.
Đại khoa làng Dọc và đạo lý người xưa
Trong số các vị đại khoa của làng Dọc, Tiến sĩ Nguyễn Doãn Khâm là nhân vật thường xuất hiện trong các giai thoại dân gian. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi (1559) dưới triều Mạc Tuyên Tông, sau đó giữ chức Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.
Theo tư liệu truyền khẩu, Nguyễn Doãn Khâm có thể chất vượt trội, thân hình cao lớn, sức khỏe hơn người. Dân gian kể ông có cánh tay dài quá gối, giỏi võ nghệ, đặc biệt là môn vật, ít người có thể địch lại. Ngay cả trong chốn triều đình, các đô lực sĩ cũng khó so tài.

Bản viết tay Hương ước tổng Kiệt Đặc (năm 1936).
Một giai thoại cho biết, trong lần về quê, đi qua sới vật ở làng Giao Tất (nay thuộc Hà Nội), ông nghe tin có đô vật giữ giải nhiều ngày mà chưa có đối thủ. Nguyễn Doãn Khâm tham gia thi đấu và nhanh chóng giành phần thắng. Khi được trao giải, ông không nhận mà chỉ xưng tên, chức vụ rồi lên ngựa đi thẳng. Vì tài đấu vật, dân gian gọi ông là Trạng Vật.
Một vị Tiến sĩ khác cũng nổi tiếng là Nguyễn Phong (1561-1643). Từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh, sớm thể hiện năng lực văn chương. Theo một số tư liệu, mới 7 tuổi ông đã có thể làm văn; từng được cha thử sức bằng bài văn tế thần Hậu Thổ ở gò Kim Đôi.
Năm 1574, dưới triều Mạc Mậu Hợp, khi mới 14 tuổi, ông dự thi Hương và đỗ ngay trong lần đầu, cùng khoa với cha. Trong yến tiệc sau kỳ thi, ông chỉ đứng mà không ngồi; khi được hỏi, ông cho biết do tên mình đứng trên tên cha trong bảng kết quả nên không dám ngồi.
Đến năm 1586 (niên hiệu Thuần Phúc), ông đỗ Tiến sĩ, sau đó giữ chức Tả thị lang Bộ Lại, được phong tước Phúc Trì bá. Sau biến động năm 1592, khi nhà Mạc mất quyền, ông lui về ở ẩn tại núi Huyền Đinh. Khi nhà Lê trung hưng nắm quyền, triều đình nhiều lần triệu mời, ông mới nhận lời ra làm quan.
Trong thời gian phục vụ triều Lê, ông giữ chức Thượng thư, tước Tuyền quận công, sau đó xin cáo quan vì tuổi cao. Những năm cuối đời, ông trở về quê, đào hồ, đắp đảo, dựng am đọc sách, ngâm thơ. Một số sáng tác, trong đó có bài “Ngụ hứng”, được ghi lại trong sử sách. Ông qua đời năm 1643, thọ 83 tuổi.
Tư liệu địa phương cho thấy, tại làng Dọc từng tồn tại hình thức trao đổi đề thi và bài làm giữa người học trong làng với các địa phương lân cận. Nho sinh làm bài theo đề rồi gửi đi để được chấm, nhận xét. Bên cạnh đó, các dòng họ trong làng xây dựng từ đường, lưu giữ gia phả và tổ chức hoạt động khuyến học, tạo môi trường để việc học được duy trì qua nhiều thế hệ.
Những câu chuyện về sự nghiêm khắc trong dạy con, cách chuẩn bị cho các kỳ thi hay lối ứng xử của người đỗ đạt được truyền khẩu qua nhiều thế hệ, trở thành một hình thức giáo dục đặc trưng của làng Dọc. Qua đó, thói quen và ý thức tự giác học tập được bồi đắp bền bỉ. Bởi vậy, câu nói ‘Người làng Dọc không học cũng hay’ không chỉ là lời khen, mà còn là sự tôn vinh ý chí tự học của người dân nơi đây.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/lang-doc-khong-hoc-cung-hay-post775307.html











