'Làng số' tại Tuyên Quang: Từ bản sắc đến kinh tế số
Nhắc đến chuyển đổi số, nhiều người thường nghĩ đến hạ tầng công nghệ hay các nền tảng số. Nhưng tại xã Lâm Bình (Tuyên Quang), chuyển đổi số lại bắt đầu từ những điều rất gần gũi: chiếc điện thoại thông minh và những câu chuyện về cuộc sống thường nhật của đồng bào.

Tại xã Lâm Bình (Tuyên Quang), kinh tế số giữ vai trò động lực, công nghệ số là công cụ, người dân là trung tâm, là chủ thể tham gia và thụ hưởng.
Người dân trở thành chủ thể của chuyển đổi số
Giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình, người dân ghi lại cảnh lên nương, hái măng, dệt thổ cẩm, đánh cá, nấu ăn hay những sinh hoạt đời thường rồi chia sẻ trên YouTube, TikTok và Facebook. Không cần kịch bản cầu kỳ hay kỹ xảo bắt mắt, những hình ảnh chân thực ấy lại thu hút đông đảo người xem.
Hiện người dân xã Lâm Bình vận hành khoảng 60 kênh YouTube và TikTok giới thiệu đời sống vùng cao, du lịch sinh thái và bản sắc văn hóa của đồng bào Tày, Dao, Mông; trong đó hơn 20 kênh đạt hàng triệu lượt xem. Từ những video tưởng như giản dị, nhiều hộ dân đã có thêm nguồn thu nhập, từng bước cải thiện đời sống.
Nhận thấy tiềm năng của mô hình này, ngày 30/4/2026, xã Lâm Bình công bố Đề án "Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2026-2030", triển khai gắn với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đề án xác định rõ quan điểm phát triển: kinh tế số giữ vai trò động lực; công nghệ số là công cụ; người dân là trung tâm, là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Đây cũng là điểm khác biệt của mô hình. Công nghệ không phải mục tiêu cuối cùng mà là phương tiện để người dân khai thác những giá trị vốn có của quê hương, tạo sinh kế và phát triển kinh tế.
Theo ông Tô Viết Hiệp, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lâm Bình, không nên coi chuyển đổi số hay kinh tế số là điều quá vĩ mô, xa vời với nông thôn, miền núi. Không gian mạng chính là "bệ phóng" giúp xóa bỏ rào cản địa lý, đưa hình ảnh bản làng đến với đông đảo công chúng.
Vẫn theo ông Hiệp, thành công của một nhà sáng tạo nội dung không nằm ở thiết bị hiện đại. Điều giữ chân người xem chính là sự chân thực, là văn hóa bản địa, là cuộc sống lao động hằng ngày của đồng bào. Chính vì vậy, địa phương hướng tới mục tiêu biến cả bản làng thành một "phim trường sinh thái giàu bản sắc", nơi mỗi người dân vừa là người kể chuyện về quê hương, vừa góp phần quảng bá hình ảnh địa phương trên không gian số.
Hình thành hệ sinh thái kinh tế số từ bản sắc
Điều đáng chú ý là Đề án không dừng lại ở việc khuyến khích người dân sản xuất nội dung số, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái kinh tế số gắn với du lịch cộng đồng.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026-2028, trên 60% hộ dân tham gia mô hình sẽ có hoạt động kinh tế số và được tiếp cận hạ tầng số cơ bản; thu hút trên 3.000 lượt khách du lịch vào năm 2028; thu nhập của các hộ tham gia tăng tối thiểu 30% so với năm 2026. Đến giai đoạn 2029-2030, địa phương phấn đấu trên 90% hộ dân được tập huấn và tham gia hoạt động kinh tế số; số hóa, quảng bá từ 8 sản phẩm trở lên; 100% điểm du lịch có nội dung giới thiệu được chuẩn hóa trên môi trường số, từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế số cộng đồng gắn với du lịch bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, địa phương đầu tư hạ tầng internet, xây dựng không gian sinh hoạt số cộng đồng, phòng livestream và triển khai mô hình "Bình dân học vụ số". Người dân được hướng dẫn kỹ năng sản xuất nội dung, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, thực hiện các thủ tục hành chính điện tử, đăng ký kinh doanh, kê khai thuế và bảo đảm an toàn trên môi trường mạng. Cùng với đó là bộ quy tắc ứng xử trong sáng tạo nội dung nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa, hạn chế tình trạng chạy theo những nội dung phản cảm để thu hút lượt xem.
Hiệu quả bước đầu cho thấy đây không chỉ là hoạt động quảng bá hình ảnh địa phương. Trong 6 tháng đầu năm 2026, "Làng sáng tạo nội dung số" tại xã Lâm Bình tạo nguồn thu từ kinh tế số ước đạt khoảng 50 tỷ đồng, thu hút hơn 80 hộ gia đình tham gia. Trước đó, riêng năm 2025, doanh thu từ các hộ sản xuất, kinh doanh trên nền tảng số đã đạt hơn 40 tỷ đồng, đóng góp trên 25% tổng thu ngân sách của xã.
Những con số ấy phản ánh một cách tiếp cận mới trong phát triển kinh tế số ở nông thôn. Nếu trước đây, tài nguyên của địa phương chủ yếu được nhắc đến là cảnh quan thiên nhiên hay đất đai, thì nay chính bản sắc văn hóa cũng trở thành một nguồn lực phát triển. Mỗi video chia sẻ không chỉ góp phần quảng bá du lịch mà còn mở thêm cơ hội tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP và dịch vụ địa phương.
Ông Tô Viết Hiệp cho rằng, tài nguyên số không chỉ nằm ở mã nguồn hay phần mềm, mà còn hiện diện trong những giá trị văn hóa bản địa. Khi người dân được trang bị kỹ năng để kể câu chuyện về quê hương mình, những giá trị ấy hoàn toàn có thể chuyển hóa thành chuỗi giá trị kinh tế bền vững.
Câu chuyện ở Lâm Bình cho thấy chuyển đổi số ở nông thôn không nhất thiết bắt đầu từ những công nghệ phức tạp. Quan trọng hơn là nhận diện đúng lợi thế bản địa, đưa công nghệ vào đúng vai trò là công cụ và để người dân trở thành chủ thể sáng tạo. Khi bản sắc văn hóa được kết nối với không gian số, những bản làng vùng cao không chỉ được biết đến nhiều hơn mà còn có thêm động lực phát triển trong nền kinh tế số.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/lang-so-tai-tuyen-quang-tu-ban-sac-den-kinh-te-so.html













