Lấy khoa học - công nghệ làm trụ cột đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp
Năm 2026, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) xác định là tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao giá trị gia tăng, lấy khoa học - công nghệ làm đột phá, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ, Thứ trưởng Bộ NNMT Phùng Đức Tiến đã có trao đổi với Báo Kiểm toán xung quanh nội dung này.

Đẩy mạnh hoạt động sản xuất gắn với chế biến, nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu. Ảnh: ST
Ngành nông nghiệp kết thúc năm 2025 với bức tranh nhiều điểm sáng trong bối cảnh tình hình không thuận lợi. Xin ông cho biết một số kết quả nổi bật của ngành?
Năm 2025 ghi dấu nhiều kết quả đậm nét của ngành NNMT, nổi bật nhất là hoạt động xuất khẩu, trong bối cảnh toàn ngành liên tục phải đối diện với không ít thách thức từ diễn biến thị trường, chính sách thuế quan, thiên tai… Có những thời điểm, áp lực đặt ra là rất lớn.
Theo đó, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước - mức cao nhất từ trước tới nay, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2025 (65 tỷ USD), với sự tăng trưởng ở hầu hết các ngành hàng. Đáng chú ý, nhiều mặt hàng chủ lực ghi nhận mức tăng mạnh, đặc biệt là những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và giá trị gia tăng cao.
Cà phê trở thành điểm sáng nổi bật khi xuất khẩu đạt 1,5 triệu tấn, kim ngạch 8,57 tỷ USD, tăng hơn 52% về giá trị so với năm 2024. Rau quả đạt 8,56 tỷ USD, tăng gần 20%. Hạt điều đạt 5,19 tỷ USD; hạt tiêu dù giảm nhẹ về khối lượng nhưng kim ngạch vẫn đạt 1,64 tỷ USD nhờ giá tăng mạnh…
Những kết quả này phản ánh rõ nét xu hướng chuyển dịch trong tư duy sản xuất và xuất khẩu. Thay vì chạy theo số lượng, nhiều ngành hàng đã chú trọng hơn tới chất lượng, thương hiệu và phân khúc thị trường. Các sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm đặc trưng vùng, miền ngày càng khẳng định ưu thế; tỷ trọng các sản phẩm đã qua chế biến tiếp tục gia tăng trong cơ cấu xuất khẩu.
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng phát triển tập trung, thay cho mô hình nhỏ lẻ, manh mún trước đây. Điều này thể hiện qua số lượng hợp tác xã được thành lập mới không ngừng tăng lên, với 164 liên hiệp hợp tác xã và 1.057 hợp tác xã thành viên. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc tăng cường liên kết, hợp tác, qua đó nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, mở rộng quy mô và cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Nhìn lại một năm vừa qua, nếu chọn ra dấu ấn nổi bật mang tính bao trùm của ngành, theo ông đó là gì?
Như đã đề cập, năm qua không chỉ ghi nhận kết quả tích cực trong xuất khẩu mà các hoạt động sản xuất cũng tiếp tục được duy trì ổn định theo hướng nâng cao giá trị, từng bước hình thành chuỗi cung ứng, chuỗi chế biến, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực và nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Để đạt được những kết quả đó là sự triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều nhóm giải pháp. Nổi bật nhất chính là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng gia tăng giá trị, cùng với sự tham gia ngày càng sâu của khoa học, công nghệ vào đổi mới sản xuất, kinh doanh, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nhìn lại cả giai đoạn 5 năm vừa qua, có thể thấy khoa học, công nghệ đã trở thành “chìa khóa” mở ra cánh cửa phát triển nông nghiệp hiện đại, hỗ trợ đắc lực cho định hướng cơ cấu lại ngành. Người nông dân từ chỗ chủ yếu sản xuất dựa vào phương thức thủ công, nay đã từng bước khai thác hiệu quả công nghệ để hỗ trợ sản xuất, thậm chí làm chủ đồng ruộng thông qua các ứng dụng công nghệ.
Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới được nghiên cứu, chuyển giao vào sản xuất, mang lại năng suất và giá trị cao hơn nhiều lần so với trước đây. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao được áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Có thể khẳng định, chuyển đổi số không còn là hoạt động mang tính hỗ trợ, mà đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Qua đó, góp phần hiện đại hóa chuỗi giá trị nông nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
Xin ông cho biết rõ hơn về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu trong năm 2026?
Trước sức ép của biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu ngày càng cao của hội nhập quốc tế, một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm của ngành nông nghiệp trong thời gian tới là tiếp tục tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trong đó, ứng dụng khoa học, công nghệ được xác định là giải pháp mang tính đột phá để toàn ngành hiện thực hóa mục tiêu này. Đây cũng là một trong bốn đột phá chiến lược được Bộ NNMT lựa chọn làm trụ cột dẫn dắt quá trình đổi mới toàn diện của ngành trong giai đoạn tới.
Năm 2026, Bộ NNMT đặt mục tiêu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 73 tỷ USD, phấn đấu trong khoảng 73-74 tỷ USD. Trong đó, nhóm nông sản dự kiến đạt khoảng 40 tỷ USD; thủy sản khoảng 12 tỷ USD; lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD.
Đối với nhiệm vụ xuất khẩu nông sản năm 2026, đây tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm, có đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Để thúc đẩy hoạt động này, Bộ sẽ tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về quản lý chất lượng nông sản, bảo đảm hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế.
Song song với đó, Bộ sẽ đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngành cũng chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, tăng tỷ trọng chế biến sâu nhằm giảm chi phí, nâng cao giá trị sản phẩm.
Bên cạnh đó, các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả gắn với quá trình “chuyển đổi số, kinh tế số” sẽ tiếp tục được đổi mới và phát triển; quan hệ sản xuất từng bước được hoàn thiện; hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản được đẩy mạnh, gắn kết chặt chẽ hơn với hệ thống tiêu thụ toàn cầu.
Đồng thời, Bộ sẽ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển thị trường, mở rộng thương mại quốc tế nông sản gắn với hội nhập kinh tế quốc tế, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu duy trì và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nhóm 15 quốc gia xuất khẩu nông, lâm, thủy sản hàng đầu thế giới. Trong đó, phấn đấu đạt tỷ lệ 40% hàng chế biến, mở rộng vững chắc thị phần tại các thị trường có giá trị cao. Song song với đó, ngành chủ trương đa dạng hóa thị trường, đặc biệt thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng không gian xuất khẩu.












