Lễ hội dân gian - tài nguyên của công nghiệp văn hóa
Lễ hội dân gian là nguồn tài nguyên kiến tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Sản phẩm ấy không đồng nghĩa với gia tăng yếu tố thương mại, mà là quá trình tổ chức, sáng tạo, truyền thông các giá trị văn hóa bằng phương thức hiện đại, chuyên nghiệp.
Trữ lượng tài nguyên dồi dào
Công nghiệp văn hóa là sự kết hợp giữa sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung văn hóa. Đối chiếu với khái niệm này, ở không gian lễ hội, các nghi thức tế lễ, làn điệu dân ca, trò chơi dân gian hay sản phẩm thủ công truyền thống đều có thể tái cấu trúc thành nền tảng cho công nghiệp văn hóa. Theo GS. TS. Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, một trong những thể hiện rõ nhất trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam là giá trị văn hóa của lễ hội dân gian. Trong số các loại hình văn hóa truyền thống, lễ hội dân gian chứa đầy đủ các thành tố của văn hóa dân gian trong quá khứ cũng như hiện tại.
Thời gian qua, nhiều lễ hội như hội Gióng (Hà Nội), hội Lim (Bắc Ninh), lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (An Giang), lễ hội Katê của đồng bào Chăm (Ninh Thuận)… thu hút đông đảo du khách, tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương. Đến không gian lễ hội, họ không chỉ trải nghiệm nghi thức tâm linh mà còn phát sinh nhu cầu khác như lưu trú, ẩm thực, mua sắm đồ lưu niệm, sử dụng dịch vụ vận tải và các loại hình giải trí đi kèm. Hơn thế, thông qua sức lan tỏa của truyền thông, hình ảnh về các lễ hội dân gian còn góp phần định vị thương hiệu quốc gia, thúc đẩy ngành du lịch.

Lễ hội dân gian là nguồn tài nguyên kiến tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ảnh: TH
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhìn nhận văn hóa là “sức mạnh mềm” của quốc gia và là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết mở ra cách tiếp cận mới: nhìn nhận di sản, trong đó có các lễ hội văn hóa dân gian, không chỉ là giá trị cần bảo tồn còn là nguồn tài nguyên để phát triển trong thời đại mới. Bởi vậy, lễ hội dân gian nên được tiếp cận như trữ lượng tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, hoàn toàn có thể trở thành động lực kinh tế nếu được nhìn nhận đầy đủ giá trị, đầu tư đúng hướng.
GS. TS. Lê Hồng Lý phân tích, bản sắc của lễ hội dân gian Việt Nam nằm ở tính độc đáo của từng địa phương, đúng như câu nói dân gian “Trống làng nào làng ấy đánh/Thánh làng nào làng ấy thờ”. Chính sự khác biệt và độc đáo là giá trị lôi cuốn khách du lịch, thể hiện sự đa dạng của văn hóa tộc người. Lễ hội càng độc đáo, đặc sắc thì càng hấp dẫn. Trong bối cảnh thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, điều quan trọng là tìm tòi, sáng tạo để vừa bảo vệ tính đa dạng, đặc sắc của các lễ hội dân gian, vừa phát triển đưa lễ hội thành một phần của công nghiệp văn hóa.
Định hình giá trị công nghiệp văn hóa
Trong các ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam xác định phát triển, nhiều lĩnh vực gắn trực tiếp với văn hóa dân gian như du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thời trang, thiết kế, điện ảnh, quảng cáo, ẩm thực... Tuy nhiên, cần đưa tư duy quản trị chuyên nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ vào công tác tổ chức lễ hội.
Hiện nay, ngoài các lễ hội lớn có quy mô cấp quốc gia, hàng nghìn lễ hội có quy mô cấp tỉnh, cấp xã… đòi hỏi sự chuyển đổi không gian tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng thuần túy thành các chuỗi giá trị thương mại, dịch vụ, du lịch và thương hiệu địa phương. Theo PGS. TS. Dương Văn Sáu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, du lịch lễ hội là một trong những loại hình chủ đạo của du lịch di sản, du lịch văn hóa Việt Nam. Lễ hội gồm hai phần là lễ và hội. Trong đó, lễ là những ứng xử của con người đối với thần thánh, còn hội là ứng xử của con người với con người trong không gian, thời gian diễn ra lễ hội.
PGS. TS. Dương Văn Sáu nhìn nhận chính phần hội mang lại lợi ích chính đáng, hợp pháp cho các cá nhân và tổ chức có liên quan. Đưa lễ hội dân gian thành sản phẩm công nghiệp văn hóa không nhất thiết phải chạy theo quy mô hoành tráng hay rập khuôn na ná nhau, mà trọng tâm là tạo ra giá trị kinh tế - xã hội bền vững và giữ tính độc đáo. Muốn khai thác tốt, cần nghiên cứu tổng quan về lễ hội, về không gian, nhu cầu của du khách, từ đó đưa ra chính sách, quy chế phù hợp, cân bằng giữa bảo tồn và sáng tạo từ giá trị mang tính đặc thù địa phương.
Từ cơ sở nghiên cứu, đánh giá giá trị độc đáo của lễ hội, cần đánh giá năng lực tổ chức, phát triển dịch vụ để tư vấn, tạo điều kiện đầu tư hạ tầng cho cá nhân, tổ chức sáng tạo ra các dịch vụ độc đáo, đáp ứng nhu cầu du khách trên tinh thần văn minh, lịch sự, tôn trọng truyền thống.
Song song với tư duy quản trị, việc kết nối liên vùng, xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch - văn hóa đa dạng cũng là giải pháp thiết yếu. Không thể làm du lịch lễ hội theo tư duy “mạnh ai nấy làm”, mà các địa phương cần tạo ra tour tuyến liên kết, kết hợp trải nghiệm lễ hội với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, khám phá làng nghề...
Đồng thời, khuyến khích phát triển sản phẩm phái sinh như đồ lưu niệm, thời trang, âm nhạc lấy cảm hứng từ tích truyện lễ hội để gia tăng chuỗi giá trị kinh tế. Các địa phương cũng nên xây dựng chiến lược phát huy giá trị di tích và lễ hội, định hình sản phẩm du lịch đặc trưng, vừa tạo ra giá trị vật chất vừa làm giàu đời sống tinh thần cho cộng đồng.
Theo GS. TS. Lê Hồng Lý, trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn cầu, lễ hội dân gian đã trở thành một giá trị chung, một phương tiện giao lưu quốc tế mang tính gần gũi và kết nối giữa các dân tộc. Khai thác thành công lễ hội dân gian không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là hành trình khẳng định tầm vóc và bản sắc của văn hóa Việt Nam trên bản đồ công nghiệp văn hóa toàn cầu.
