Lịch sử tỉnh Kiên Giang - 'Vựa lúa, vựa cá' của Đồng bằng sông Cửu Long

Kiên Giang thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có địa điểm thuận lợi kết nối Việt Nam với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không.

Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang.

Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang.

Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Phần lớn diện tích Kiên Giang ngày nay bao gồm thành phố Rạch Giá và toàn bộ tỉnh Hà Tiên cũ. Đây là tỉnh có diện tích lớn nhất vùng Tây Nam Bộ và lớn thứ hai ở Nam Bộ.

Vị trí địa lý

Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có địa điểm thuận lợi kết nối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không.

Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 56,8km, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan.

Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.353km2, địa hình đa dạng, bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú, đa dạng.

 Bãi Khem Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: TTXVN phát)

Bãi Khem Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: TTXVN phát)

Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2024, dân số tỉnh Kiên Giang là 1.763.826 người, đứng thứ 15 cả nước; dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer, Hoa.

Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo.

Lịch sử hình thành

Kiên Giang có một lịch sử lâu dài và gắn liền với các sự kiện quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

Trước thế kỷ 17, vùng đất Kiên Giang thuộc lãnh thổ Chân Lạp, hay còn gọi là Mang Khảm, người Kinh gọi là Phương Thành.

Dưới thời nhà Nguyễn, diện tích Kiên Giang ngày nay thuộc đất Hà Tiên xưa, một vùng đất được khai phá bởi cha con Mạc Cửu.

Khi Mạc Cửu được chúa Nguyễn Phúc Chu ban làm Tổng binh trấn Hà Tiên, đất Hà Tiên khi đó bao gồm vùng đất rộng lớn với 7 xã thôn tương ứng với lãnh thổ của các tỉnh: Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang ngày nay.

Ghi chép về huyện Kiên Giang, sách "Đại Nam nhất thống chí" chép rằng “huyện Kiên Giang nguyên là đất đất Rạch Giá, từ lúc Mạc Cửu mở mang, mới lệ vào Hà Tiên, đặt đạo Kiên Giang. Năm Gia Long thứ 7, đặt 2 huyện Kiên Giang và Long Xuyên do đạo quản trị. Năm thứ 9, đổi lệ vào Hà Tiên. Năm Minh Mạng thứ 6, bỏ đạo, đặt chức Tri huyện, lại đặt huyện Hà Tiên thuộc phủ An Biên. Năm thứ 13, chia tỉnh hạt gọi là tỉnh Hà Tiên, đổi phủ An Biên làm phủ Quan Biên, đổi huyện Hà Tiên làm huyện Hà Châu...”

Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, Mạc Thiên Tích thay cha nối nghiệp cơ đồ, mở mang bờ cõi.

Năm 1739, Mạc Thiên Tích lập thêm 4 huyện là: Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang, Trấn Di.

Năm 1757, được vua Cao Miên cắt 5 phủ phía Tây Nam nước Chân Lạp để trả ơn, Mạc Thiên Tích đã dâng đất lên chúa Nguyễn và được chúa Nguyễn ưng thuận, nhập 5 phủ này vào đất Mang Khảm, đồng thời lập ra đạo Kiên Giang (lỵ sở là Rạch Giá) và Long Xuyên (lỵ sở là Cà Mau) thuộc trấn Hà Tiên.

Sau khi chúa Nguyễn Ánh lấy lại được đất Hà Tiên từ tay người Xiêm La, năm 1788, chúa Nguyễn đem 2 đạo Kiên Giang và Long Xuyên nhập vào dinh Vĩnh Trấn.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long. Cùng với việc thiết lập hệ thống hành chính thống nhất đất nước, nhà vua bắt tay vào chỉnh đốn vùng đất Hà Tiên. Hai đạo Kiên Giang và Long Xuyên được cải tổ lại, thuộc về trấn Vĩnh Thanh.

Năm 1808 (Gia Long năm thứ 7), đạo Kiên Giang được đổi thành huyện Kiên Giang. Triều Minh Mạng, Kiên Giang thuộc phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên.

Tỉnh Hà Tiên lúc này gồm 1 phủ là Quan Biên (đổi tên từ phủ An Biên) thống lĩnh 8 huyện (là Hà Châu, Long Xuyên, Kiên Giang, Sài Mạt, Linh Quỳnh, Châu Sum, Cần Vọt, Vũng Thơm).

Năm 1825, để tránh sự trùng tên với trấn, huyện Hà Tiên được đổi tên thành huyện Hà Châu.

Năm 1832, trấn Hà Tiên được nâng lên thành tỉnh Hà Tiên, trực thuộc Nam Kỳ.

Từ thời vua Tự Đức đến trước khi thực dân Pháp xâm lược năm 1867, tỉnh Hà Tiên gồm 1 phủ An Biên, 3 huyện là Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên.

 Châu bản triều Nguyễn thời Tự Đức. (Nguồn: Trung tâm Tư liệu Quốc gia)

Châu bản triều Nguyễn thời Tự Đức. (Nguồn: Trung tâm Tư liệu Quốc gia)

Năm Tự Đức thứ 4 (1851), vua Tự Đức ngự phê trên bản Tấu của bộ Lại về việc sắp xếp lại các phủ huyện thuộc tỉnh Hà Tiên. Theo đó, phủ An Biên kiêm lý huyện Hà Châu, số đinh các loại hơn 400 người, ruộng đất hơn 300 mẫu.

Huyện Kiên Giang, số đinh các loại hơn 800 người, ruộng đất hơn 900 mẫu.

Huyện Long Xuyên, số đinh các loại hơn 1100 người, ruộng đất hơn 1300 mẫu)

Năm 1867, Thành Hà Tiên rơi vào tay giặc Pháp. Tỉnh Hà Tiên nhanh chóng được tổ chức lại cùng với một số địa phương khác ở Nam Kỳ.

Dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Hà Tiên cũ được tách thành 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh là Hà Tiên và Rạch Giá. Hai tỉnh này tồn tại độc lập trong suốt gần 1 thế kỷ.

Từ năm 1945-1975, do hoàn cảnh lịch sử nhiều biến động, việc phân định các đơn vị hành chính cũng có nhiều thay đổi: từ tỉnh Hà Tiên, tỉnh Rạch Giá đến tỉnh Long Châu Hà.

Năm 1956, theo Sắc lệnh số 143-NV, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và 4 quận (gồm Châu Thành, Hòn Chông, Giang Thành, Phú Quốc) được sáp nhập vào tỉnh Rạch Giá để thành lập tỉnh Kiên Giang. Đến tháng 5/1965, tỉnh Hà Tiên được tái lập.

Năm 1957, theo Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ ấn định các đơn vị hành chính tỉnh Kiên Giang gồm 6 quận (Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên Bình, Kiên An, Hà Tiên, Phú Quốc); có 7 tổng; 58 xã.

Theo Nghị định số 368-BNV/HC/NĐ ngày 27/12/1957 bổ túc Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ ấn định các đơn vị hành chánh tỉnh Kiên Giang.

Điều 1 của Nghị định này nêu rõ quận Kiên An gồm thêm xã Vĩnh Tuy.Ngày 13/6/1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định 314-BNV/HC/NĐ về việc sửa đổi đơn vị hành chính tỉnh Kiên Giang.

Tại điều 1 của Nghị định này quy định tách quận Kiên Bình thành 2 quận: Kiên Bình và Kiên Hưng.

Như vậy vào thời điểm năm 1958, tỉnh Kiên Giang có 7 quận và 7 tổng, theo niên giám Hành chính 1971 của Việt Nam Cộng hòa thì tỉnh Kiên Giang gồm 7 quận: Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên Bình, Kiên An, Kiên Lương, Hà Tiên, Phú Quốc; 42 xã; 247 ấp.

Năm 1973, tỉnh Kiên Giang có 8 quận (Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên Bình, Kiên An, Kiên Lương, Hà Tiên, Phú Quốc, Hiếu Lễ).

 Một góc thành phố Hà Tiên (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Một góc thành phố Hà Tiên (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Hiện nay, tỉnh Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, gồm: thành phố Rạch Giá, thành phố Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải, huyện U Minh Thượng và huyện Giang Thành và 145 xã, phường, thị trấn.

Từ những bước phát triển mạnh mẽ trong lịch sử, Kiên Giang hiện nay đã trở thành một tỉnh quan trọng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp lớn vào nền kinh tế của cả nước và là điểm kết nối giao thương giữa Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á./.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/lich-su-tinh-kien-giang-vua-lua-vua-ca-cua-dong-bang-song-cuu-long-post1021221.vnp