Liên kết chuỗi sản xuất ở miền núi
Cơ chế hỗ trợ các dự án liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đang mở thêm điều kiện để người dân miền núi Đà Nẵng tổ chức lại sản xuất, tiếp cận kỹ thuật và tìm đầu ra cho sản phẩm. Qua những vùng quế, mô hình chăn nuôi, cây dược liệu và sinh kế cộng đồng, chính sách từng bước phát huy hiệu quả thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân.
NGƯỜI DÂNHỢP TÁC XÃDOANH NGHIỆP
Kết nối vùng nguyên liệu
Các dự án liên kết sản xuất được triển khai tại nhiều xã miền núi những năm qua đã tạo thêm điều kiện để người dân thay đổi cách làm, tiếp cận kỹ thuật và từng bước ổn định đầu ra sản phẩm. Hiệu quả thể hiện khá rõ ở những vùng nguyên liệu được tổ chức lại, nơi hợp tác xã đứng ra tập hợp hộ dân và doanh nghiệp tham gia tiêu thụ sản phẩm.

Trưng bày đặc sản quế và dược liệu miền núi xứ Quảng. Ảnh: HOÀNG LIÊN
Giá trị mới cho quế Trà My
Khu vực tây nam thành phố hiện có khoảng 3.000ha quế Trà My. Diện tích khá lớn, sản phẩm đã có danh tiếng nhưng giá trị tạo ra từ cây quế vẫn chưa cao. Phần lớn diện tích trước đây được trồng phân tán trong dân, quy mô từng hộ nhỏ, quy trình chăm sóc chưa đồng đều. Chu kỳ sinh trưởng của quế kéo dài cũng khiến việc đầu tư vùng nguyên liệu tập trung, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, một số hợp tác xã đã chủ động tập hợp người trồng quế, hướng dẫn quy trình sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ.
Tại xã Trà Vân, Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân thành lập từ tháng 10/2025, đến nay đã liên kết hơn 50 hộ dân với khoảng 70ha. Người dân được hướng dẫn canh tác theo hướng hữu cơ, lựa chọn giống, chăm sóc, quản lý dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh, ghi chép nhật ký và sơ chế vỏ quế sau thu hoạch.
Ông Võ Đình Hổ, Giám đốc Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân cho biết, đơn vị đang tiếp tục mở rộng vùng liên kết, thu mua với giá cao hơn thị trường khoảng 15 - 20% nếu nguyên liệu đáp ứng yêu cầu chất lượng. Người dân tham gia liên kết được hướng dẫn kỹ thuật và có đầu mối thu mua nên yên tâm đầu tư cho vườn quế. Mục tiêu của hợp tác xã là từng bước hình thành vùng nguyên liệu hữu cơ tập trung, nâng chất lượng và xây dựng thương hiệu quế Trà Vân ổn định hơn trên thị trường.

Doanh nghiệp liên kết với bà con xã Trà Vân triển khai mô hình trồng tre sinh khối. Ảnh: PHAN VINH
Cách tổ chức vùng nguyên liệu cũng được Hợp tác xã Quế Trà My Minh Phúc ở xã Trà My thực hiện với 76 hộ dân, diện tích liên kết hơn 150ha. Bà Nguyễn Thị Việt, Giám đốc hợp tác xã cho biết, quá trình sản xuất được kiểm soát theo tiêu chuẩn GACP nhằm nâng chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc. Ở quy mô rộng hơn, Công ty CP Quế Trà My đang kết nối các hợp tác xã tại Trà Vân và Trà Đốc để hình thành hệ sinh thái sản phẩm, bao gồm nhóm trà thảo dược; chăn nuôi gà, heo dưới tán rừng quế, cung cấp thực phẩm cho nhà hàng, khu nghỉ dưỡng...
“Doanh nghiệp dự kiến đảm nhận khâu hoàn thiện tiêu chuẩn, thương mại và xuất khẩu. Kế hoạch đặt mục tiêu tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 150 lao động và liên kết khoảng 800 hộ trồng quế. Quy mô này vẫn đang trong quá trình hình thành, song cho thấy vùng quế muốn phát triển bền vững cần được tổ chức ngay từ vùng nguyên liệu, có đơn vị đứng ra điều phối sản xuất và thị trường tiêu thụ rõ ràng”
TRẦN VIẾT HÙNGGiám đốc Công ty CP Quế Trà My
Sinh kế mới từ liên kết
Ở Phước Chánh, khoảng 20 hộ dân đang tham gia mô hình nuôi hươu lấy nhung, được hỗ trợ con giống và chuồng trại từ dự án liên kết sản xuất thuộc nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia. Hợp tác xã Đầu tư và Phát triển nhung hươu Hương Sơn ở Hà Tĩnh tham gia chuyển giao kỹ thuật và kết nối đầu ra sản phẩm. Với nhiều hộ, hươu là vật nuôi mới nên những tháng đầu cần cán bộ kỹ thuật hướng dẫn khá sát.
Bà Nguyễn Thị Lợi (một hộ dân tham gia mô hình) cho biết, ban đầu gia đình cũng khá lo vì chưa có kinh nghiệm. Sau thời gian được đơn vị liên kết hướng dẫn, việc chăm sóc dần đi vào ổn định.
“Có đơn vị hướng dẫn kỹ thuật, địa phương theo dõi và đầu ra được cam kết nên bà con yên tâm hơn. Các hộ cùng tham gia một mô hình cũng dễ trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau khi gặp vấn đề trong quá trình nuôi”
NGUYỄN THỊ LỢIHộ dân tham gia mô hình nuôi hươu lấy nhung ở Phước Chánh
Tại xã Trà Tập, 7 mô hình nuôi hươu lấy nhung đang được triển khai cho 33 hộ với tổng đàn 90 con. Ông Nguyễn Anh Hùng, kỹ thuật viên Hợp tác xã Nhung hươu Hương Sơn cho biết người dân đã dần nắm được quy trình chăn nuôi, đàn hươu sinh trưởng ổn định. Hợp tác xã tiếp tục cử cán bộ kỹ thuật theo dõi và thực hiện cam kết thu mua sản phẩm.

Người dân xã Trà Đốc liên kết với doanh nghiệp triển khai mô hình trồng và tiêu thụ quế, chế biến thành phẩm nâng cao giá trị. Ảnh: LÊ MỸ
Một hướng liên kết khác đang được triển khai ở thôn 1, xã Trà Vân với 14ha tre sinh khối của 18 hộ dân. Doanh nghiệp tham gia cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuật và dự kiến thu mua sản phẩm. Các giống tre tầm vông, tre lùn, tre sắt được lựa chọn phù hợp điều kiện địa phương và có khả năng khai thác lâu dài. Theo phương án của dự án, với giá thu mua dự kiến khoảng 900 đồng/kg, mỗi héc ta có thể tạo doanh thu hơn 100 triệu đồng mỗi năm.
Ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch UBND xã Trà Vân cho biết, tre vốn quen thuộc với người dân miền núi, song để hình thành sinh kế ổn định cần có đơn vị đứng ra liên kết và xác định thị trường ngay khi triển khai.
“Bước đầu, bà con yên tâm vì có doanh nghiệp liên kết thu mua và chính quyền địa phương cùng tham gia tổ chức. Xã tiếp tục tăng vai trò của lực lượng khuyến nông, khuyến lâm, gắn cán bộ thôn với từng mô hình và tổ chức tập huấn sát thực tế để người dân có thể duy trì sản xuất lâu dài”
NGUYỄN TẤN THÀNHChủ tịch UBND xã Trà Vân
Những mô hình này có quy mô và loại sản phẩm khác nhau, nhưng điểm chung là nguồn hỗ trợ được gắn với kỹ thuật và đầu ra sản phẩm. Đây cũng là nền tảng để những hộ sản xuất nhỏ ở miền núi từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thay vì tự sản xuất, tự tìm thị trường như trước.
Mở rộng đầu ra cho nông sản
Liên kết đã giúp nhiều hộ dân miền núi có thêm đầu ra sản phẩm và kỹ thuật sản xuất, song để chuỗi duy trì lâu dài, các hợp tác xã và doanh nghiệp cần đủ năng lực tổ chức vùng nguyên liệu, chế biến và thị trường. Những cơ chế mới của Trung ương và thành phố đang mở thêm nguồn lực cho quá trình này.

Hợp tác xã Sản xuất nông sản và dược liệu Bản Boa liên kết với bà con địa phương sản xuất những sản phẩm thương mại từ các loại dược liệu bản địa. Ảnh: PHAN VINH
Hợp tác xã cần thêm nguồn lực
Tại xã biên giới Hùng Sơn, chổi đót đang tạo thêm việc làm cho nhiều phụ nữ Cơ Tu ngay tại địa phương. Dự án cộng đồng Sinh kế bản địa Việt Nam được Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Leaflink (làng nghề chổi đót Thạnh Hòa, xã Xuân Phú) phối hợp với Hợp tác xã Sinh kế bản địa Việt Nam triển khai tại thôn Cha’nốc từ tháng 4/2026.
Theo đó, hợp tác xã đứng ra tập hợp lao động, thu gom nguyên liệu và tổ chức sản xuất. Người dân khai thác đót, làm chổi theo từng nhóm nhỏ để những người mới tham gia có thời gian học nghề và nâng dần chất lượng sản phẩm. Khi hoạt động ổn định, các nhóm có thể làm gần 5.000 cây chổi mỗi tháng, tạo thêm thu nhập khoảng 3 - 4,5 triệu đồng/người/tháng.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Sương, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Leaflink cho biết, sau khi mô hình tại Cha’nốc vận hành ổn định, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố cùng doanh nghiệp tiếp tục triển khai hai tổ liên kết tại Arâng và Tr’hy. Đến nay, hợp tác xã có 15 thành viên, riêng 2 tổ liên kết thu hút hơn 50 người dân tham gia. Doanh nghiệp đảm nhận việc hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thị trường.
Tuy nhiên, khi số lượng đơn hàng tăng lên, hạn chế về không gian sản xuất, bảo quản và thiết bị bắt đầu bộc lộ.
“Chúng tôi đang cần khu sản xuất phù hợp, thêm máy móc và thiết bị để nâng năng lực đáp ứng đơn hàng. Bên cạnh đó, đội ngũ điều hành cũng cần được củng cố để quản lý sản xuất, quảng bá và phát triển thị trường tốt hơn. Khi những khâu này được giải quyết, chuỗi mới có điều kiện duy trì thu nhập ổn định cho người dân”
NGUYỄN THỊ MỸ SƯƠNGGiám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Leaflink
Ở Trà Giáp, Hợp tác xã Sản xuất nông sản và dược liệu Bản Boa đang liên kết với 50 hộ xây dựng vùng quế và 10 hộ trồng thiên niên kiện dưới tán cây ăn quả. Người dân được hướng dẫn sản xuất theo hướng hữu cơ, ghi chép nhật ký ngay từ đầu vụ nhằm quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. Hợp tác xã hiện tiếp tục phát triển mô hình vườn - rừng đa tầng trên diện tích khoảng 4ha, hướng tới kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch và khai thác giá trị sản vật bản địa.
Bà Nguyễn Thị Huê, Giám đốc hợp tác xã cho biết, nguồn lực đầu tư vẫn là vấn đề lớn khi đơn vị muốn mở rộng quy mô liên kết.
“Chúng tôi mong được tiếp cận thêm nguồn vốn để mở rộng vùng nguyên liệu, đầu tư sản xuất và nâng năng lực quản lý. Chuyển đổi số trong quá trình sản xuất, quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc cũng cần được hỗ trợ để sản phẩm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường”
NGUYỄN THỊ HUÊGiám đốc Hợp tác xã Sản xuất nông sản và dược liệu Bản Boa
Thực tế tại Hùng Sơn và Trà Giáp cho thấy khi chuỗi đã hình thành, nhu cầu hỗ trợ cũng thay đổi. Con giống, cây giống hay vật tư ban đầu vẫn cần thiết, nhưng các hợp tác xã cần thêm nguồn lực cho nhà xưởng, thiết bị, quản trị, tiêu chuẩn và thị trường để có thể đứng vững sau khi dự án kết thúc.

Hiện nay, có rất nhiều cơ chế thúc đẩy các mô hình liên kết chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm miền núi. TRONG ẢNH: UBND xã Trà Vân ký kết hợp tác với Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân. Ảnh: Địa phương cung cấp
Chính sách mở thêm dư địa
Theo ngành nông nghiệp thành phố, những năm qua Đà Nẵng đã hỗ trợ 98 dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với sự tham gia của 97 hợp tác xã, 77 doanh nghiệp và gần 19.500 hộ dân, tổng nguồn vốn đầu tư hơn 381 tỷ đồng. Nhiều dự án trong số này được triển khai tại khu vực miền núi, góp phần hình thành vùng nguyên liệu, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và tăng vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp trong tiêu thụ nông sản. Kết quả bước đầu tạo nền tảng để thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ trong giai đoạn mới.
Liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản
Số dự án Đà Nẵng đã hỗ trợ những năm qua và các chủ thể tham gia
98
dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản
97hợp tác xã
77doanh nghiệp
gần19.500hộ dân
Tổng nguồn vốn đầu tưhơn381tỷ đồng
Nguồn: Ngành nông nghiệp thành phố
Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND thành phố quy định các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026 - 2030. Đối với dự án liên kết, chủ thể có thể tiếp cận hỗ trợ về tư vấn xây dựng liên kết, đào tạo, tập huấn, nâng năng lực quản lý chuỗi, giống, vật tư, máy móc, dây chuyền sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm.
Một số chính sách khác cũng tạo thêm nguồn lực cho các ngành hàng đặc thù. Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND quy định cơ chế khuyến khích bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh và cây dược liệu. Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND hỗ trợ Chương trình mỗi xã một sản phẩm. Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND quy định cơ chế thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
Ở cấp Trung ương, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP tiếp tục là căn cứ quan trọng để triển khai chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 tiếp tục bổ sung cơ chế đối với các dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị. Điều 8 của nghị định quy định hỗ trợ đổi mới tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, vùng nguyên liệu tập trung và liên kết chuỗi giá trị, trong đó ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Các cơ chế hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị
Văn bản của Trung ương và HĐND thành phố được nêu trong bài
Trung ương
Nghị định số 98/2018/NĐ-CPChính sách khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Nghị định số 387/2026/NĐ-CPNgày 12/10/2026Bổ sung cơ chế đối với các dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; Điều 8 ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
HĐND thành phố
Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐNDNgày 29/5/2026Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026 - 2030
Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐNDCơ chế khuyến khích bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh và cây dược liệu
Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐNDHỗ trợ Chương trình mỗi xã một sản phẩm
Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐNDCơ chế thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Tổng hợp từ nội dung bài viết
Nguồn lực chính sách đã khá rộng. Phần việc tiếp theo nằm ở cách lựa chọn mô hình, năng lực của chủ thể đứng ra liên kết và khả năng duy trì chuỗi sau thời gian được hỗ trợ. Những dự án có vùng nguyên liệu rõ ràng, người dân cùng tham gia quy trình chung và doanh nghiệp cam kết thị trường sẽ có nhiều điều kiện hơn để nguồn vốn hỗ trợ tạo ra giá trị lâu dài.
Phát huy hiệu quả dự án liên kết
Các dự án liên kết đang mở thêm cơ hội tổ chức lại sản xuất tại khu vực miền núi, song hiệu quả lâu dài phụ thuộc vào cách lựa chọn mô hình, năng lực của hợp tác xã, doanh nghiệp và vai trò của chính quyền cơ sở.

Các thành viên của Hợp tác xã Sản xuất nông sản và dược liệu Bản Boa đóng gói sản phẩm được làm từ các loại dược liệu tại địa phương xã Trà Giáp. Ảnh: PHAN VINH
ÔNG NGUYỄN XUÂN VŨ, CHỦ TỊCH LIÊN MINH HỢP TÁC XÃ THÀNH PHỐ:
Hợp tác xã cần chủ động hơn
Các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tại khu vực miền núi đã có chuyển biến tích cực. Một số hợp tác xã bắt đầu đảm nhận vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, điều phối sản xuất, cung ứng đầu vào, kiểm soát chất lượng và tìm thị trường cho thành viên. Khi cùng áp dụng quy trình và tiêu chuẩn, sản phẩm dễ kiểm soát chất lượng, doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn khi ký hợp đồng thu mua.
Thời gian tới, các hợp tác xã cần tiếp tục nâng năng lực quản trị, tổ chức sản xuất và điều hành chuỗi. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số cần được thực hiện đồng bộ hơn. Chủ thể liên kết cũng phải chủ động tìm doanh nghiệp, nghiên cứu nhu cầu thị trường và xây dựng phương án sản xuất phù hợp với khả năng của thành viên.
Nguồn lực hỗ trợ hiện khá đa dạng. Hợp tác xã có thể tiếp cận Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã, các chương trình tín dụng ưu đãi và chính sách của Trung ương, thành phố về OCOP, liên kết sản xuất, phát triển nông nghiệp, sâm Ngọc Linh và dược liệu. Chính sách tạo điều kiện ban đầu, còn khả năng duy trì chuỗi phụ thuộc nhiều vào năng lực của chính hợp tác xã. Khi chủ thể liên kết đủ khả năng tổ chức vùng nguyên liệu, quản trị chất lượng và làm việc trực tiếp với thị trường, người dân sẽ có thêm điểm tựa để sản xuất ổn định và nâng giá trị nông sản.
BÀ VŨ THỊ BÍCH HẬU, PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG:
Nâng chất lượng từng chuỗi liên kết
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố, nhất là khu vực miền núi, vẫn còn phân tán. Số lượng hợp tác xã, trang trại và dự án liên kết tăng lên nhưng năng lực tổ chức sản xuất, áp dụng quy trình chung, kiểm soát chất lượng và điều tiết sản lượng giữa từng địa bàn còn chênh lệch. Nhiều hộ dân vẫn tự lựa chọn giống, thời vụ, quy mô sản xuất và phương thức tiêu thụ. Khi mỗi hộ làm theo một cách khác nhau, chi phí tăng, chất lượng khó đồng đều và khả năng đàm phán với doanh nghiệp cũng hạn chế.
Trong giai đoạn tới, việc tổ chức sản xuất cần bám sát nhu cầu thị trường hơn. Trước khi mở rộng vùng nguyên liệu, chủ thể liên kết phải xác định sản phẩm bán cho ai, yêu cầu chất lượng ra sao và khả năng tiêu thụ ở mức nào. Trên cơ sở đó mới tính toán diện tích, sản lượng và quy trình sản xuất phù hợp.
Dư địa tăng trưởng của nông nghiệp miền núi cũng cần được khai thác theo chiều sâu. Năng suất, chất lượng, chế biến, thương hiệu và thị trường sẽ quyết định phần giá trị tăng thêm của sản phẩm. Đây là cơ sở để ngành nông nghiệp chuyển dần sang cách tổ chức sản xuất theo chuỗi và khai thác tốt hơn giá trị của từng vùng nguyên liệu.
Đà Nẵng hiện có nền tảng với 98 dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản đã được hỗ trợ theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP. Giai đoạn tới cần tập trung nâng chất lượng các chuỗi hiện có, ưu tiên những mô hình có doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia, vùng nguyên liệu rõ và thị trường tương đối ổn định. Hợp tác xã cần tiến thêm một bước trong chuỗi, đảm nhận tốt hơn việc tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, quản trị dữ liệu, phát triển thương hiệu và kết nối thị trường. Khi từng mắt xích làm rõ trách nhiệm và lợi ích, nguồn lực hỗ trợ mới có điều kiện chuyển thành giá trị thực tế cho người dân.
ÔNG NGUYỄN THANH TÂN, PHÓ CHỦ TỊCH UBND XÃ ĐÔNG GIANG:
Chính quyền phải làm tốt vai trò cầu nối
Đông Giang đang triển khai các mô hình liên kết tập trung vào ba nhóm sản phẩm gồm hươu lấy nhung, quế Trà My và ba kích. Qua thực tế triển khai, việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi phải dựa trên điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng tham gia của người dân. Ngay khi xây dựng mô hình cũng cần xác định đơn vị liên kết, quy trình kỹ thuật và hướng tiêu thụ để người dân biết rõ trách nhiệm, quyền lợi khi tham gia.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã tại địa phương hiện tham gia cung ứng đầu vào, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và cam kết thu mua sau thu hoạch. Chính quyền xã giữ vai trò kết nối các bên. Địa phương khảo sát vùng trồng, vùng chăn nuôi, lựa chọn hộ phù hợp, phối hợp tập huấn và theo dõi quá trình thực hiện. Khi phát sinh khó khăn về kỹ thuật hoặc tiêu thụ, xã cùng chủ thể liên kết xử lý sớm để hạn chế ảnh hưởng đến mô hình.
Một chuỗi liên kết muốn duy trì phải tạo được niềm tin giữa người dân và đơn vị thu mua. Doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết, người dân tuân thủ quy trình sản xuất và địa phương theo sát quá trình triển khai thì mô hình mới có khả năng mở rộng. Đây là hướng Đông Giang tiếp tục thực hiện để giảm dần sản xuất manh mún và tạo sinh kế ổn định hơn cho người dân miền núi.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/lien-ket-chuoi-san-xuat-o-mien-nui-3357675.html
