Lo thiếu nguồn, Bộ Công Thương 'xoay sang' điện mái nhà, điện than
Trước nguy cơ thiếu điện từ năm 2027, Bộ Công Thương yêu cầu đẩy nhanh lắp điện mặt trời trên mái công sở, trường học, bệnh viện. Cơ quan này đồng thời tính phương án bổ sung 5.300 MW nhiệt điện than khi nhiều dự án nguồn điện lớn có thể chậm tiến độ.
Khai thác 2.800 MW trên mái công sở
Ngày 16/9, Bộ Công Thương đề nghị các bộ, địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai quyết liệt chương trình điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Các đơn vị phải lập kế hoạch, bố trí vốn hoặc thu hút đầu tư để lắp điện mặt trời trên mái trụ sở, trường học, bệnh viện và công trình công. Mục tiêu là hoàn thành nhiệm vụ theo Chỉ thị 10 của Thủ tướng trước ngày 31/3/2027. Trường hợp khó khăn về nguồn vốn, các đơn vị công lập có thể đề nghị Bộ Tài chính, HĐND hoặc UBND cấp tỉnh xem xét hỗ trợ đầu tư hệ thống điện mặt trời và pin lưu trữ năng lượng (BESS).
Theo tính toán của Bộ Công Thương, mái các bệnh viện, trường học, cơ quan công sở thuộc tài sản nhà nước có thể lắp đặt pin và thu về khoảng 2.800 MW điện mặt trời. Đây là nguồn điện có khả năng triển khai nhanh, không phải giải phóng mặt bằng lớn và giúp giảm lượng điện lấy từ lưới vào ban ngày.

Bộ Công Thương đề nghị các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai lắp điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Bộ Công Thương cũng đề nghị các tỉnh sớm ban hành chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ; đồng thời hướng dẫn kết hợp với pin lưu trữ. EVN được giao kiểm tra các hệ thống đấu nối với lưới điện quốc gia, tránh phát triển tự phát, gây quá tải cục bộ.
Theo Bộ Công Thương, tiến độ triển khai tại địa phương đang chậm. Đến nay, mới có Bắc Ninh và Lai Châu hoàn thành kế hoạch thực hiện Chỉ thị 10; một số tỉnh, thành chưa ban hành kế hoạch hoặc chưa gửi báo cáo.
Việc thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà diễn ra trong bối cảnh Bộ Công Thương dự báo hệ thống có thể thiếu điện từ năm 2027 nếu các dự án nguồn và lưới tiếp tục chậm tiến độ. Năm 2027, công suất thiếu hụt có thể khoảng 4.256 MW; đến năm 2030 tăng lên gần 14.000 MW trong kịch bản bất lợi.
Nguy cơ “đủ điện nhưng thiếu khả năng cấp điện”
Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, nguy cơ thiếu điện không chỉ xuất hiện khi tổng công suất nguồn của cả nước không đủ. Hệ thống có thể đủ nguồn trên phạm vi quốc gia nhưng vẫn thiếu khả năng cấp điện tại một khu vực nếu nguồn và lưới không được chuẩn bị tương ứng.
Rủi ro này đặc biệt đáng lưu ý khi trung tâm dữ liệu, cơ sở sản xuất chip, khu công nghiệp công nghệ cao và trạm sạc xe điện có xu hướng tập trung tại một số địa bàn.
Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, câu hỏi của quy hoạch điện không còn đơn giản là nền kinh tế cần bao nhiêu điện. Cơ quan quản lý phải xác định ở đâu cần điện, vào thời điểm nào, công suất và mức độ tin cậy ra sao.
Một trung tâm dữ liệu hoặc dự án công nghiệp lớn có thể được quyết định, triển khai nhanh hơn nhiều so với thời gian chuẩn bị nhà máy điện, trạm biến áp và đường dây truyền tải. Khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế vì thế xuất phát từ ba độ trễ: chậm nhận diện phụ tải mới; nguồn điện không nằm cùng khu vực với phụ tải; thời gian xây dựng nguồn và lưới dài hơn tốc độ hình thành các dự án tiêu thụ điện lớn.

Ngành điện đang triển khai lắp đặt BESS để giảm áp lực vào giờ cao điểm.
Do đó, việc rà soát quy hoạch điện lần này không thể chỉ tập trung vào cộng thêm bao nhiêu MW nguồn điện. Bộ Công Thương, EVN và đơn vị vận hành hệ thống phải đánh giá đồng thời tiến độ đưa nguồn vào vận hành, năng lực truyền tải và vị trí xuất hiện phụ tải mới. Nếu không, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “đủ điện nhưng thiếu khả năng cấp điện”.
“Không nên mặc định toàn bộ công suất của từng loại hình nguồn sẽ xuất hiện đúng thời điểm quy hoạch. Với các dự án LNG, điện gió ngoài khơi, BESS hoặc thủy điện tích năng có nguy cơ chậm tiến độ, cần xác định sẵn nguồn thay thế và thời điểm kích hoạt phương án dự phòng. Quy hoạch điện cần chuyển từ một kịch bản cố định sang cơ chế có khả năng cập nhật, thích ứng liên tục với biến động của phụ tải và tiến độ nguồn điện”, một chuyên gia Hiệp hội Năng lượng Việt Nam lưu ý.
Đáng chú ý, để bù phần công suất từ các dự án LNG và nguồn điện nền chậm tiến độ, Bộ Công Thương đang tính phương án bổ sung một số dự án nhiệt điện than. Mục tiêu là đưa khoảng 5.300 MW nguồn điện than mới vào vận hành năm 2030 tại Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Trị và Cần Thơ.
Bộ Công Thương thừa nhận phương án này tiềm ẩn nhiều rủi ro về vốn, công nghệ và yêu cầu giảm phát thải. Bài toán vì vậy không đơn thuần là lựa chọn điện mặt trời, LNG hay điện than, mà phải xây dựng được cơ cấu nguồn đủ linh hoạt.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, hệ thống điện cần bổ sung khoảng 93.000 MW công suất nguồn. Trong số này, EVN được giao đầu tư, hoàn thành khoảng 6.066 MW nguồn điện và 1.700 MW hệ thống lưu trữ năng lượng.


