Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone năm 2026: Việt Nam ngăn ngừa phát thải tương đương khoảng 260 triệu tấn CO2

Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone năm 2026 được Ban Thư ký ozone lựa chọn chủ đề “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”, đồng thời cũng là thời điểm kỷ niệm 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua.

Việt Nam tích cực tham gia vào nỗ lực chung nhằm bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.

Việt Nam tích cực tham gia vào nỗ lực chung nhằm bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.

Điều này ghi dấu một thập kỷ nỗ lực toàn cầu nhằm cắt giảm có lộ trình lượng sản xuất và tiêu thụ các chất hydrofluorocarbon (HFC) trên toàn cầu và thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Gần bốn thập kỷ nỗ lực đã loại bỏ khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát

Nghiên cứu từ các nhà khoa học xác định một số hóa chất được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp là nguyên nhân chính gây suy giảm tầng ozone. Để đảo ngược thực trạng này cộng đồng quốc tế đã nhanh chóng hành động. Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone được thông qua năm 1985 và Nghị định thư Montreal ra đời năm 1987, thiết lập cơ chế kiểm soát và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone trên toàn cầu. Nghị định thư Montreal sau đó trở thành một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất, với sự tham gia của các quốc gia trên thế giới.

Gần bốn thập kỷ kể từ năm 1987 khi Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone được thông qua, thế giới đã chứng kiến một trong những nỗ lực hợp tác môi trường thành công nhất trong lịch sử. Theo đó khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát đã được loại bỏ trong nỗ lực chung nhằm đưa tầng ozone vào quỹ đạo phục hồi. Nếu các chính sách hiện hành tiếp tục được thực hiện đầy đủ, tầng ozone ở Nam Cực được dự báo có thể trở lại mức của năm 1980 vào khoảng năm 2066.

Thành công của Nghị định thư Montreal không dừng lại ở việc bảo vệ tầng ozone. Thông qua đó tạo một cơ chế hợp tác đặc biệt. Nghị định thư Montreal thiết lập lộ trình giảm dần việc sử dụng các chất được kiểm soát, đi kèm hệ thống quản lý sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ, cơ chế hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi công nghệ và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp.

Năm 2016, các Bên tiếp tục thông qua Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, đưa thêm mục tiêu giảm dần hydrofluorocarbon (HFC) - nhóm chất không làm suy giảm tầng ozone nhưng nhiều loại có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao và được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Đến nay, 174 trong tổng số 198 Bên tham gia Nghị định thư Montreal đã phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.

Việc đưa HFC vào phạm vi kiểm soát vừa tiếp nối thành quả bảo vệ tầng ozone, vừa mở rộng đóng góp của Nghị định thư Montreal đối với ứng phó biến đổi khí hậu. Theo các đánh giá khoa học, nếu Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thực hiện đầy đủ, việc giảm dần HFC có thể giúp tránh khoảng 0,5°C mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ này.

Thực tế Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994. Theo đó trong suốt hơn 3 thập kỷ qua, Việt Nam nỗ lực đã triển khai nhiều giải pháp kiểm soát, quản lý và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và thực hiện lộ trình theo các cam kết quốc tế. Cùng với sự hỗ trợ từ Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montreal, Ngân hàng Thế giới và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc…đã góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi sang công nghệ thân thiện với khí hậu, thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang - Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thống kê của Ban thư ký ozone, quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải từ các chất được kiểm soát tương đương khoảng 260 triệu tấn CO2, qua đó thúc đẩy bảo vệ tầng ozone và hướng tới Net Zero vào năm 2050. Việt Nam không chỉ đáp ứng các mốc kiểm soát mà còn từng bước nâng cao năng lực quản lý, hỗ trợ nhiều ngành sản xuất chuyển đổi công nghệ và tạo nền tảng để chủ động hơn trong giai đoạn tiếp theo. Kết quả này thể hiện đóng góp của Việt Nam vào nỗ lực chung nhằm bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.

Ba thập kỷ Chủ động trách nhiệm Viêt Nam có mục tiêu năm 2045 giảm trực tiếp hơn 11,2 triệu tấn CO2 tương đương từ quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát

Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal năm 1994.Ở giai đoạn đầu, việc thực hiện Nghị định thư Montreal tại Việt Nam chủ yếu được triển khai thông qua các chương trình, dự án theo từng kế hoạch loại trừ, gắn với hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ. Hơn ba thập từ cách tiếp cận theo từng dự án Việt Nam từng bước chuyển sang chủ động xây dựng chính sách và lộ trình dài hạn. Nội dung bảo vệ tầng ozone đã được Việt Nam thể chế hóa tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được cụ thể hóa tại các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022, tiếp tục được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 gần đây nhất là Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/3/2026 của Chính phủ và các văn bản liên quan.

Cùng với hợp tác quốc tế và chuyển đổi công nghệ, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ tầng ozone, gắn với mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Cùng với hợp tác quốc tế và chuyển đổi công nghệ, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ tầng ozone, gắn với mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Tại Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát do Thủ tướng Chính phủ ban hành (tại Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024) tiếp tục xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đến năm 2045, tạo cơ sở để Việt Nam chủ động kết nối lộ trình thực hiện Nghị định thư Montreal, xác định các nhiệm vụ giảm dần sử dụng HFC gắn với chuyển đổi công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, sử dụng môi chất lạnh có GWP thấp, nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển nguồn nhân lực và quản lý vòng đời các chất được kiểm soát cũng như thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững... Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã ban hành, áp dụng nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến an toàn trong sản xuất, sử dụng các chất được kiểm soát.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng với hợp tác quốc tế và chuyển đổi công nghệ, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ tầng ozone, gắn với mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 giảm trực tiếp hơn 11,2 triệu tấn CO2 tương đương từ việc quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát, góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Tuy nhiên bên cạnh sự chủ động về chính sách cũng đòi hỏi phải tính đến nhu cầu thị trường trong suốt quá trình chuyển đổi. Dù hạn ngạch nhập khẩu các chất được kiểm soát giảm dần, nhưng thực tế một lượng lớn thiết bị hiện hữu vẫn cần môi chất để vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa. Theo đó cùng với thúc đẩy công nghệ và môi chất thay thế, Việt Nam đang từng bước chuyển từ quản lý lượng chất đưa vào thị trường sang quản lý trong suốt vòng đời, thúc đẩy thu hồi, tái sử dụng, tái chế và tái sinh.

Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone năm 2026 là dịp nhìn lại 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua. Đồng thời, cho thấy hành trình của Nghị định thư Montreal đang tiếp tục - từ bảo vệ tầng ozone, mang lại lợi ích cho khí hậu đến thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Trong hành trình đó, cùng với cộng đồng quốc tế, Việt Nam tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali; thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời, cùng hành động vì một hành tinh mát lành hơn.

Phan Vi

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/ngay-quoc-te-bao-ve-tang-ozone-nam-2026--viet-nam-ngan-ngua-phat-thai-tuong-duong-khoang-260-trieu-tan-co2-550474.htm