Lồng ghép rủi ro khí hậu vào quy hoạch đô thị, nông thôn

Điều chỉnh quy hoạch khu dân cư, nâng khả năng chống chịu của hạ tầng và phát triển công trình xanh là những nội dung được đề xuất trong nghiên cứu xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu ngành xây dựng giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quy hoạch đô thị, khu dân cư nông thôn và hệ thống hạ tầng kỹ thuật cần tính đến nguy cơ ngập lụt, nước biển dâng, sạt lở và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đây là một trong những nội dung trọng tâm của đề tài “Xây dựng và cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050”, do TS. Lưu Đức Minh chủ trì tại Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, thực hiện trong giai đoạn 2019–2021.

Theo đánh giá trong nghiên cứu, Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ngành xây dựng giai đoạn 2016–2020 còn nhiều nhiệm vụ chưa được triển khai do hạn chế về nguồn lực. Một số nội dung chưa cập nhật đầy đủ kịch bản biến đổi khí hậu, đồng thời có nguy cơ chồng chéo với các kế hoạch về tăng trưởng xanh, giảm phát thải và phát triển đô thị ban hành sau đó.

Từ thực tế này, nhóm nghiên cứu đề xuất cập nhật kế hoạch theo hướng đồng bộ các nhiệm vụ, xác định rõ lộ trình và nguồn lực thực hiện. Yếu tố biến đổi khí hậu cần được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, làm cơ sở lựa chọn giải pháp phù hợp với từng địa bàn.

Ưu tiên khu vực có nguy cơ thiên tai cao

Nghiên cứu xác định ba nhóm nhiệm vụ, gồm hoàn thiện thể chế; nghiên cứu, thí điểm; quản lý và nâng cao năng lực.

Nhóm thứ nhất gồm 13 nhiệm vụ rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy hoạch, phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, công trình công cộng và sản xuất vật liệu xây dựng. Trọng tâm là đưa yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm rủi ro thiên tai vào các quy định chuyên ngành.

Các tác giả cũng đề xuất xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về công trình, đô thị phát thải thấp, sử dụng năng lượng hiệu quả và nâng cao khả năng chống chịu trước tác động của khí hậu.

Nhóm thứ hai gồm 11 nhiệm vụ nghiên cứu, thí điểm về thích ứng và giảm phát thải khí nhà kính. Trong đó, việc điều chỉnh quy hoạch đô thị, khu dân cư nông thôn và hạ tầng kỹ thuật được ưu tiên tại vùng ven biển, đồng bằng thấp, những nơi có nguy cơ chịu ảnh hưởng của bão, lũ, xâm thực, lũ quét và sạt lở.

Đối với các đô thị hiện hữu, nghiên cứu chú trọng cải tạo, tái thiết và nâng khả năng chống chịu của hệ thống hạ tầng, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các đề xuất này đặt yêu cầu đánh giá rủi ro khí hậu ngay trong quá trình quy hoạch và đầu tư, thay vì chỉ xử lý thiệt hại sau thiên tai.

Về giảm phát thải, nhóm tác giả đề xuất tiết kiệm năng lượng, hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phát triển vật liệu xanh, công trình xanh và đô thị các-bon thấp. Thí điểm thị trường các-bon trong sản xuất xi măng cũng là một nội dung được nêu tại thời điểm nghiên cứu.

Gắn giải pháp kỹ thuật với nguồn lực thực hiện

Để các nhiệm vụ có thể triển khai, nghiên cứu đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và đa dạng hóa nguồn vốn. Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và cộng đồng; kết hợp với các chương trình phát triển có liên quan để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhóm tác giả nhấn mạnh công tác dự báo, đánh giá tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu. Kết quả đánh giá là căn cứ để lựa chọn giải pháp phòng ngừa, giảm nhẹ và thích ứng cho từng loại công trình, từng khu vực.

Các hướng nghiên cứu gồm vật liệu thân thiện với môi trường, công trình tiết kiệm năng lượng, hạ tầng xanh và đô thị phát thải thấp. Đồng thời, cần xây dựng công cụ giúp đưa yếu tố khí hậu vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng.

Công nghệ thông tin và hệ thống thông tin địa lý được đề xuất ứng dụng trong xây dựng cơ sở dữ liệu, phục vụ quản lý và kiểm kê phát thải khí nhà kính. Hợp tác quốc tế tập trung vào tiếp nhận kinh nghiệm, công nghệ và huy động tài chính cho các hoạt động thích ứng, giảm phát thải.

Nâng năng lực quản lý, theo dõi kết quả

Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung vào quản lý, tuyên truyền, đào tạo và hợp tác quốc tế. Nghiên cứu đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu của ngành xây dựng, tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, chủ đầu tư và doanh nghiệp.

Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu cũng cần được tích hợp vào chương trình đào tạo về quy hoạch, quản lý đô thị, kiến trúc và xây dựng. Cùng với nâng cao năng lực chuyên môn là yêu cầu đánh giá định kỳ tiến độ, hiệu quả thực hiện để kịp thời điều chỉnh nhiệm vụ và cách phân bổ nguồn lực.

Những đề xuất của nghiên cứu nhấn mạnh sự gắn kết giữa quy hoạch, đầu tư hạ tầng và quản lý rủi ro khí hậu. Với khu dân cư nông thôn và các vùng sản xuất, hạ tầng thích ứng tốt còn góp phần bảo vệ sinh kế, hạn chế gián đoạn hoạt động kinh tế và giảm thiệt hại do thiên tai.

PV

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/long-ghep-rui-ro-khi-hau-vao-quy-hoach-do-thi-nong-thon-18281.html