Long lanh sắc màu hồn đá
ĐNCT - Có lẽ trong thế giới vô tri mà có linh hồn, xếp liền sau đất về sự chung thủy sẻ chia với con người chính là đá. Chẳng thế sao mà khắp vùng quê tôi, đâu đâu cũng gặp những tên tuổi đá gắn liền với thăng trầm dâu bể.

Suối Đá nằm ở khu vực xã Bà Nà. Ảnh: Tư liệu
Muôn màu kỳ diệu của thế giới đá
Kìa đá Hòm trên rừng Già như gã lính canh ngàn năm giữ chìa khóa hòm vàng, đá Bia dựng giữa đồng Chùa nguệch ngoạc dấu tích tiền nhân, đá Trụ Trời sừng sững trên đỉnh núi Lớn kiên gan cùng tuế nguyệt, và đá Bàn Cờ nằm bên suối Tiên vẫn kể mãi chuyện xưa tiên cảnh hạ trần đánh cờ cùng nhân thế…
Từ những hang sâu khuất nẻo cho đến chốn hun hút rừng già, đâu đâu cũng ẩn hiện muôn màu kỳ diệu của thế giới đá.
Có con suối mang tên Suối Đá bắt nguồn từ núi Lớn. Lòng suối sạch nhẵn, kết tinh toàn bằng những khối đá lớn nhỏ, thỉnh thoảng mở ra vài vũng sâu lóng lánh cát vàng.
Ngày còn đi củi, cắt tranh, lũ trẻ chúng tôi thường lánh mình xuống lòng suối nghỉ trưa, dầm mình trong vũng sâu cho dòng nước mát cuốn trôi bao nhọc mệt dặm trường. Mát lạnh, sạch sẽ và tinh tươm.
Chúng tôi thường chọn một tảng đá to bằng phẳng dưới gốc cây cổ thụ bên bờ, mở gói mo cau đựng cơm trưa. Ruột mo cau trắng nõn, hạt cơm trắng ngần, màu muối mè đen nhánh tạo nên một mảng màu mời gọi, nức lòng.
Không biết đến tận bây giờ, giữa những lo toan cơm áo, tôi có bao giờ tìm lại được vị ngon thanh khiết, vị sảng khoái vẹn nguyên như những ngày cần lao xa lắc ấy hay không?
Suối đá cũng lại là một thế giới riêng che chở cho bao loài động thực vật. Những ngọn rau dớn chắt chiu chút đất cát pha ít ỏi nơi hốc đá để cho ra đời những đọt rau dớn đá giòn ngọt, đậm vị.
Cá, tôm, cua, ốc sinh sống trong lòng suối cũng theo đó mà mang danh tôm đá, cua đá, ốc đá. Loài ốc đá nhờ ăn rêu non mọc trên vách đá nên mình đen tuyền, thịt đầy và thơm, đem nấu canh mít thì thật là tuyệt phẩm.
Bây giờ bước chân vào những nhà hàng sang trọng, thấy cua đá, tôm đá, cá bống đá giá ngất ngưởng tàu cau, mới hay ngày xưa mình đã may mắn được thưởng thức toàn sơn hào hải vị của đất trời.
Kỳ diệu của đá còn là những hang động kỳ vĩ, có nơi rộng lớn chứa được cả vài ba gia đình sinh hoạt. Ngày chiến tranh loạn lạc, bà con đưa nhau trốn nấp ở những hang động hố Bền, hố Mây; dẫu bom rơi hay cà-nông lạc cũng không thể làm lung lay tấm lá chắn kiên cường mà tạo hóa đã ban tặng. Xưa kia khi thời cuộc nhiễu nhương, hố Bền, hố Mây còn là nơi những tay giang hồ thảo khấu ẩn mình sau những chuyến vùng vẫy ngang dọc, lính huyện lính tỉnh dẫu biết cũng chẳng thể làm gì nổi.
Đá bồi đắp nên hình hài văn hóa và đời sống
Nếu suối nguồn, hang động là công trình vĩ đại của thiên nhiên thì những con ngõ đá, những tòa tháp đá ong, những lăng mộ thâm nghiêm nghìn đời lại là sự kết tinh từ óc sáng tạo, tâm hồn nghệ sĩ và ý chí bền bỉ của con người.
Hiền hòa như những giếng nước đá ong Tam Hòa, Tam Anh xưa cũ; bền bỉ như những con ngõ đá tầng bậc rêu phong ở làng quê Tiên Phước; hùng vĩ như sân Đại triều nghi trước điện Thái Hòa ở Đại Nội Huế lát bằng đá Thanh trầm mặc; và đa tình như những vũ nữ Apsara mềm mại, như biểu tượng Yoni và Linga sung mãn nơi Mỹ Sơn cổ tháp…
Và rồi, đá cũng biết buồn.
Nỗi buồn của đá là nỗi buồn của người tri kỷ bị lãng quên, là nỗi buồn của tình nhân bị bội bạc. Mỗi khi đứng trước vẻ hoang vu của cổ tháp Chiên Đàn, trước sự hoang phế của di tích Đồng Dương, hay trước tường thành lăng mộ Đoàn Quý Phi u tịch cỏ dại, lòng tôi lại dậy lên một nỗi niềm cảm khái, xót xa: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Thềm cũ lâu đài bóng tịch dương” (thơ Bà Huyện Thanh Quan).
Phải chăng con người hôm nay chưa đủ tịnh tâm để nâng niu chứng tích thời gian, chưa đủ sâu sắc để thừa hưởng gia sản tinh thần ngấm sâu vào hồn đá? Giữa không gian trầm mặc ấy, hồn như nghe văng vẳng âm vang tiếng đàn đá tự các bản mường xa xôi hú gọi.
Dẫu sầu muộn, nhưng trong cô đơn dằng dặc, bậc nữ sĩ Thanh Quan đã chẳng từng mượn đá để nhắn lòng kiên cường đó sao: “đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”. Để rồi ngay cả trong phẫn hận, đá lại tiếp tục sẻ chia cùng một tấm cô trung!
Chuyện xưa kể rằng, khi công cuộc Cần vương thất bại, đại thần Tôn Thất Thuyết tìm đường sang phương Bắc theo nẻo Cao Bằng, những toan lần nữa phù vua dựng lại cơ đồ. Mà rồi nghiệp lớn không thành, ông đành lưu lạc xứ người suốt phần đời còn lại. Mỗi chiều gửi nỗi sầu vào chén rượu mà rượu không thể nguôi ngoai, Tôn đại thần thường vung kiếm chém mạnh vào tảng đá lớn trong vườn để trút nỗi phẫn uất. Người dân địa phương thương cảm, kính cẩn gọi ông bằng cái tên: Đả Thạch lão.
Bạn tôi là một nhà nho. Một bận cơ duyên, nhặt được một hòn đá tự nhiên vuông vức, anh cất giữ nâng niu và gọi là phương thạch. Mỗi lần thảo một nét chữ, anh lại dùng phương thạch làm ấn triện, như tự răn mình con chữ và cốt cách làm người phải luôn vuông vức, vững vàng. Giá mà mỗi người ai cũng có được một cơ duyên như thế!
Có thể nói, từng viên đá cuội mang cái trong veo của lòng suối, từng tảng đá ong thấm vị ngọt giếng Chăm, từng mảng rêu nhuộm xanh thềm đá… đều âm thầm bồi đắp nên hình hài văn hóa và đời sống của con người. Sự trầm mặc của đá như nỗi ưu tư suy ngẫm với thời gian, và chính là nếp nhăn trên vầng trán của tiền nhân soi bóng đến ngàn sau.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/long-lanh-sac-mau-hon-da-3353318.html
