Luật sư phân tích việc miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự

Luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Anh, Đoàn luật sư Hà Nội có bài phân tích về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Bản tin thời sự tối 17/8 của Đài Truyền hình Việt Nam có thông tin liên quan vụ tai nạn giao thông (TNGT) trên đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội do ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa XIV – người lái ô tô. Vụ tai nạn làm một người tử vong và một người bị thương.

Cụ thể, Đại tá Nguyễn Đức Long, Phó giám đốc Công an Hà Nội cho biết, cơ quan điều tra trên cơ sở đánh giá toàn diện tài liệu chứng cứ thu thập được xác định ông Nguyễn Sỹ Cương vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - quy định tại Khoản 1 Điều 260 BLHS.

"Ông Nguyễn Sỹ Cương đã thành khẩn khai nhận tất cả hành vi của mình, tích cực khắc phục hậu quả, được phía gia đình nạn nhân ghi nhận và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Gia đình nạn nhân cũng có đơn đề nghị cơ quan chức năng sớm kết thúc vụ việc để gia đình ổn định cuộc sống", theo Đại tá Nguyễn Đức Long.

“Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã thu thập được, trên cơ sở đánh giá khách quan toàn diện, đối chiếu với các căn cứ quy định của pháp luật, ông Nguyễn Sỹ Cương có đầy đủ điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự”, Đại tá Nguyễn Đức Long nói.

Luật sư Nguyễn Anh Thơm

Luật sư Nguyễn Anh Thơm

Luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Anh, Đoàn luật sư Hà Nội có bài phân tích về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự trong tình huống này. Cụ thể:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:

"Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội khi có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Với ý nghĩa vừa kịp thời động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho người thực hiện hành vi phạm tội tự giáo dục, cải tạo giúp họ trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Theo quy định trên thì việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

1. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (không phân biệt tội phạm do vô ý hay cố ý). Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS). Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a khoản 1 Điều 9 BLHS).

2.Thuộc loại tội phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác.

3.Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng có miễn trách nhiệm hình sự hay không cho người phạm tội cần phải xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả mà hành vi phạm tội đã gây ra trên thực tế, tiền án, tiền sự và nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, loại tội phạm được thực hiện chứ không phải trường hợp nào cũng được miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, người phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay không còn phải phụ thuộc vào quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng. Luật quy định “có thể” được miễn trách nhiệm hình sự.

Thực tiễn thời kỳ đầu khi BLHS 2015 ra đời, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định mới này, nhiều trường hợp được áp dụng có lợi cho người phạm tội. Tuy nhiên, thời gian sau này, tình hình TNGT diễn biến phức tạp trên cả nước nên quy định này được siết chặt áp dụng, chỉ những trường hợp nếu cơ quan điều tra xét thấy cần thiết mới áp dụng

Trên không gian mạng hiện có rất nhiều ý kiến xung quanh vụ việc này, tôi mong mọi người hãy thận trọng khi đưa các thông tin không đúng bản chất vụ việc, hoặc chưa được kiểm chứng gây ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nước. Bởi theo quy định của pháp luật hiện hành, tùy theo tính chất, mức độ, hành vi này sẽ bị xử lý tương ứng.

Luật sư Nguyễn Anh Thơm

Nguồn CAND: https://cand.vn/luat-su-phan-tich-viec-mien-trach-nhiem-hinh-su-theo-khoan-3-dieu-29-bo-luat-hinh-su-post819733.html