Luật sửa đổi 4 luật về công nghệ, viễn thông: Giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm và quản lý bằng dữ liệu
Với việc cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh, bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, tăng phân cấp, phân quyền, sử dụng dữ liệu thay cho yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ, Luật số 20/2026/QH16 cho thấy sự chuyển dịch rõ nét trong phương thức quản lý nhà nước: giảm những rào cản không còn cần thiết, tăng hậu kiểm và giám sát tuân thủ.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long tham dự và phát biểu tại họp báo ngày 10/9. (Ảnh: Thu Phương)
Trong số các luật được công bố ngày 10/9 có Luật số 20/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ, được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026.
Điểm đáng chú ý của lần sửa đổi này không chỉ nằm ở số lượng thủ tục, điều kiện kinh doanh được cắt giảm, mà còn ở cách thức quản lý. Thay vì duy trì nhiều yêu cầu ở khâu tiền kiểm, các quy định mới tăng cường hậu kiểm, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Theo đó, Luật bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa 4 điều kiện và sửa đổi 3 điều kiện kinh doanh.
Cắt 33/41 điều kiện cấp phép tần số
Lĩnh vực tần số vô tuyến điện có mức cắt giảm đáng kể, với 33/41 điều kiện cấp giấy phép được loại bỏ. Qua đó, chi phí thực hiện thủ tục hành chính giảm 50,86%, thời gian thực hiện giảm 55,01%.
Việc loại bỏ những điều kiện không còn cần thiết được thực hiện song song với tăng cường hậu kiểm thông qua kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm và khai thác dữ liệu phục vụ công tác quản lý.
Một thay đổi khác liên quan đến băng tần trong trường hợp đặc biệt phục vụ quốc phòng, an ninh. Thời hạn cấp phép lần đầu được điều chỉnh từ không quá 3 năm lên 5 năm; thời điểm đánh giá hiệu quả thực hiện Đề án được chuyển từ 3 tháng lên 9 tháng trước khi giấy phép hết hiệu lực.
Việc điều chỉnh này tạo thêm thời gian triển khai mạng, đồng thời có thêm dữ liệu thực tiễn để đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên tần số.
Trong lĩnh vực viễn thông, Luật tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh dịch vụ viễn thông; bãi bỏ điều kiện hoạt động đối với dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền.
Các quy định về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông cũng được hoàn thiện, trong đó có việc chia sẻ hạ tầng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo hướng minh bạch, hiệu quả và tiết kiệm.
Có dữ liệu rồi, doanh nghiệp không phải cung cấp lại giấy tờ
Tinh thần giảm tiền kiểm, tăng sử dụng dữ liệu cũng thể hiện rõ trong những sửa đổi liên quan đến giao dịch điện tử.
Luật bãi bỏ thủ tục thay đổi nội dung giấy phép và thủ tục gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy. Thay vì tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những giấy tờ, thông tin đã có, cơ quan quản lý tăng sử dụng dữ liệu sẵn có thông qua kết nối, chia sẻ thông tin.
Cách tiếp cận này vừa giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, vừa gắn việc đơn giản hóa thủ tục với tăng cường hậu kiểm.
Cùng với cải cách thủ tục, một nội dung đáng chú ý khác của Luật số 20/2026/QH16 là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ.
Theo đó, một số thẩm quyền liên quan đến chương trình, đề án, chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ; nhập khẩu, chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ được phân quyền từ Thủ tướng Chính phủ cho Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trách nhiệm giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan liên quan cũng được phân định rõ hơn, qua đó tạo thuận lợi cho phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
Nhìn tổng thể, việc sửa đổi đồng thời 4 luật không đơn thuần là cắt giảm một số thủ tục hay điều kiện kinh doanh. Xuyên suốt các quy định mới là hướng đổi mới phương thức quản lý: những thủ tục, điều kiện không còn cần thiết được loại bỏ; thẩm quyền được phân cấp, phân quyền rõ hơn; dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin được sử dụng nhiều hơn trong quản lý; hậu kiểm và giám sát tuân thủ được tăng cường.
Qua đó, Luật số 20/2026/QH16 hướng tới một hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực tần số vô tuyến điện, viễn thông, giao dịch điện tử và chuyển giao công nghệ.
