Lực đẩy chuỗi năng lượng tại Bà Rịa - Vũng Tàu hướng tới mục tiêu Net Zero

Trao đổi với PetroTimes, TS Nguyễn Hữu Lương cho rằng, hệ sinh thái Petrovietnam trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là tại Bà Rịa - Vũng Tàu từ khai thác khí - LNG đến dịch vụ kỹ thuật, đào tạo và logistics năng lượng đang tạo ra hiệu ứng lan tỏa không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội mà còn định hình các động lực mới cho quá trình chuyển dịch năng lượng xanh và mục tiêu Net Zero của thành phố trong thời gian tới.

Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh sau mở rộng địa giới đang hướng tới tăng trưởng bền vững và mục tiêu Net Zero vào năm 2050, vai trò của các doanh nghiệp trụ cột trong lĩnh vực năng lượng trở nên ngày càng quan trọng. Là doanh nghiệp nhà nước chủ lực với hệ sinh thái từ dầu khí đến LNG - điện - dịch vụ kỹ thuật, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (tiền thân là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam - Petrovietnam) đã có những đóng góp đáng kể cho kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng của thành phố, đặc biệt là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) thời gian qua, đồng thời được kỳ vọng sẽ tiếp tục dẫn dắt các động lực mới trong chuỗi năng lượng tương lai.

Để hiểu rõ hơn những đóng góp của Petrovietnam tại TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua và triển vọng thời gian tới, PetroTimes đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp của Viện Dầu khí Việt Nam xung quanh vấn đề này.

TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp (Viện Dầu khí Việt Nam).

TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp (Viện Dầu khí Việt Nam).

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về đóng góp của Petrovietnam đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng của TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua?

TS Nguyễn Hữu Lương: Theo tôi, trong thời gian qua, Petrovietnam đã có đóng góp đáng kể đối với TP Hồ Chí Minh trên ba phương diện lớn: kinh tế, xã hội và an ninh năng lượng.

Về kinh tế, thành phố là địa bàn quan trọng của Petrovietnam cả ở góc độ sản xuất - kinh doanh lẫn thị trường dịch vụ và logistics năng lượng. Hoạt động của Tập đoàn đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GRDP, nguồn thu ngân sách, tạo việc làm và hình thành hệ sinh thái dịch vụ kỹ thuật dầu khí - LNG - cảng biển có giá trị gia tăng cao. Ngay cả trong bối cảnh kinh tế biến động, các đơn vị của Petrovietnam trên địa bàn vẫn duy trì ổn định sản xuất, qua đó hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và ngân sách địa phương.

Về xã hội, Petrovietnam là doanh nghiệp duy trì liên tục các chương trình an sinh, hỗ trợ cộng đồng và phát triển con người. Tác động xã hội không chỉ nằm ở con số tài trợ, mà còn ở giá trị lan tỏa về văn hóa doanh nghiệp, đào tạo nhân lực và kết nối với hệ thống viện - trường của thành phố trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản trị, góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành năng lượng - công nghệ trong bối cảnh diễn ra các xu hướng chuyển đổi số và chuyển dịch năng lượng.

Về dài hạn, đóng góp quan trọng của Petrovietnam nằm ở nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng và khẳng định chủ quyền biển đảo quốc gia. Với nhu cầu năng lượng luôn ở mức cao, thành phố phụ thuộc vào chuỗi cung ứng điện - khí - nhiên liệu. Việc Petrovietnam tham gia chuỗi LNG - điện khí, dịch vụ dầu khí biển, cảng và logistics năng lượng giúp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu, giảm rủi ro đứt gãy nguồn cung và đa dạng hóa cấu trúc năng lượng, phù hợp với lộ trình chuyển dịch năng lượng và mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Tôi cho rằng nếu nhìn từ góc độ chiến lược, đóng góp của Petrovietnam không chỉ ở hiện tại, mà còn ở việc mở ra “chuỗi năng lượng - công nghiệp - dịch vụ” có sức cạnh tranh cao, gắn với các ngành mũi nhọn của thành phố như tài chính, logistics, công nghệ và giáo dục - nghiên cứu. Trong bối cảnh mở rộng không gian phát triển theo hướng đô thị - công nghiệp - cảng biển, vai trò dẫn dắt của Petrovietnam sẽ càng rõ nét.

PV: Theo ông, trong bối cảnh thành phố mở rộng không gian phát triển, Petrovietnam đã tạo hiệu ứng lan tỏa gì trong chuỗi năng lượng?

TS Nguyễn Hữu Lương: Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh mở rộng địa giới và không gian phát triển, Petrovietnam đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa rõ rệt thông qua một hệ sinh thái năng lượng - công nghiệp - dịch vụ đa dạng. Trên địa bàn thành phố, đặc biệt là tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, các đơn vị thành viên của Petrovietnam như Liên doanh Vietsovpetro, Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS), Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo - Phú Mỹ) hay Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) và các công ty dịch vụ kỹ thuật - logistics năng lượng không chỉ trực tiếp tham gia khai thác, sản xuất, phân phối khí - dầu - LNG mà còn hình thành các chuỗi cung ứng phụ trợ. Các chuỗi này bao gồm cơ khí, chế tạo thiết bị, bảo dưỡng kỹ thuật, logistics năng lượng và dịch vụ cảng - kho bãi, tạo việc làm và nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng lao động địa phương.

Kho cảng LNG Thị Vải ở Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh).

Kho cảng LNG Thị Vải ở Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh).

Trong lĩnh vực khai thác dầu khí và LNG, các đơn vị thành viên của Petrovietnam đã hình thành những trung tâm năng lượng chiến lược, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa, vừa kết nối hiệu quả với các cảng biển, khu công nghiệp và chuỗi logistics năng lượng. Điều này giúp thành phố nâng cao khả năng chủ động nguồn cung, giảm rủi ro đứt gãy chuỗi năng lượng, đồng thời thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ - dịch vụ liên quan.

Hiệu ứng lan tỏa không chỉ dừng lại ở giá trị kinh tế trực tiếp. Nhờ các đơn vị như Vietsovpetro, PV GAS hay PVFCCo - Phú Mỹ, thành phố được tiếp cận các tiêu chuẩn quản trị, kỹ thuật tiên tiến, chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao, đồng thời tăng cường khả năng chuyển giao công nghệ trong ngành năng lượng và công nghiệp hỗ trợ. Đây là nền tảng quan trọng giúp thành phố phát triển chuỗi năng lượng - công nghiệp bền vững và có giá trị gia tăng cao.

Nhìn về tương lai, hiệu ứng lan tỏa từ hệ sinh thái Petrovietnam còn giúp thành phố chuẩn bị cho quá trình chuyển dịch năng lượng xanh, các giải pháp giảm phát thải như công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon. Nhờ đó, thành phố không chỉ giữ vai trò trung tâm kinh tế, mà còn trở thành trung tâm năng lượng - công nghiệp hiện đại, kết nối hiệu quả với các vùng công nghiệp phụ cận.

PV: Đối với mục tiêu Net Zero vào năm 2050, theo ông, những lĩnh vực nào của Petrovietnam có thể trở thành động lực mới cho thành phố?

TS Nguyễn Hữu Lương: Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt Net Zero vào năm 2050, vai trò của doanh nghiệp năng lượng nhà nước chủ lực như Petrovietnam trở nên đặc biệt quan trọng, nhất là đối với trung tâm kinh tế lớn như TP Hồ Chí Minh. Tôi cho rằng, một số lĩnh vực trụ cột của Petrovietnam có thể trở thành động lực mới cho thành phố trong hành trình phát triển bền vững.

Thứ nhất là LNG và điện khí, vốn là nền tảng của chuyển dịch năng lượng sạch. Việc phát triển các dự án LNG - điện khí gắn với hệ thống cảng, kho LNG và logistics năng lượng tại khu vực Đông Nam Bộ sẽ bảo đảm cung cấp năng lượng ổn định, giảm phát thải và tạo không gian phát triển cho các ngành công nghiệp - dịch vụ. Đây là lĩnh vực Petrovietnam đã tích lũy năng lực từ PV GAS, PV Power và hệ sinh thái dịch vụ kỹ thuật đi kèm.

Thứ hai là năng lượng tái tạo và công nghệ giảm phát thải, bao gồm điện gió, điện mặt trời, hydrogen và các giải pháp thu giữ - lưu trữ - sử dụng CO₂. Nhờ kinh nghiệm quản trị dự án lớn và mạng lưới kỹ thuật - công nghệ rộng, Petrovietnam hoàn toàn có thể dẫn dắt các dự án thí điểm, thúc đẩy hình thành chuỗi giá trị năng lượng xanh tại thành phố và vùng lân cận.

Thứ ba là hệ thống dịch vụ kỹ thuật - công nghiệp phụ trợ và logistics năng lượng, với các đơn vị như Vietsovpetro, PVFCCo - Phú Mỹ, PVEP và khối cung ứng dịch vụ dầu khí - kho bãi. Đây không chỉ là hạ tầng quan trọng của chuỗi năng lượng, mà còn là nguồn tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ cho thành phố.

Tôi cho rằng, sự liên kết giữa các lĩnh vực này - từ LNG, điện khí, năng lượng tái tạo đến công nghiệp phụ trợ - sẽ hình thành một chuỗi năng lượng có giá trị gia tăng cao, vừa phục vụ mục tiêu Net Zero, vừa củng cố vai trò trung tâm kinh tế của thành phố. Về dài hạn, Petrovietnam có thể trở thành lực kéo chiến lược cho các ngành năng lượng - công nghiệp - dịch vụ phát triển đồng bộ và bền vững.

PVFCCo - đơn vị thành viên của Petrovietnam có đóng góp rất lớn vào ngân sách của TP Hồ Chí Minh.

PVFCCo - đơn vị thành viên của Petrovietnam có đóng góp rất lớn vào ngân sách của TP Hồ Chí Minh.

PV: Để hình thành chuỗi công nghiệp năng lượng - công nghệ - dịch vụ có giá trị gia tăng cao của thành phố, vai trò của Petrovietnam trong đào tạo nhân lực, đổi mới công nghệ và tài chính xanh đối với thành phố được nhìn nhận như thế nào, thưa ông?

TS Nguyễn Hữu Lương: Theo tôi, để hình thành chuỗi công nghiệp năng lượng - công nghệ - dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong giai đoạn tới, TP Hồ Chí Minh cần khai thác ba lợi thế lớn từ Petrovietnam: nhân lực chất lượng cao, năng lực công nghệ - đổi mới sáng tạo và năng lực huy động tài chính xanh.

Về nhân lực, Petrovietnam là một trong số ít tập đoàn trong nước sở hữu đội ngũ kỹ sư dầu khí - năng lượng đạt chuẩn quốc tế, có kinh nghiệm vận hành chuỗi tích hợp khai thác - khí - lọc hóa dầu - phân bón - dịch vụ kỹ thuật - logistics biển. Hệ sinh thái Petrovietnam trên địa bàn thành phố (Vietsovpetro, PV GAS, PVOIL, PVFCCo - Phú Mỹ, PTSC, PVTrans...) đã đào tạo và cung cấp kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ quản trị dự án có tay nghề cao cho ngành năng lượng quốc gia. Trường Đại học Dầu khí Việt Nam (PVU) cũng từng bước mở rộng sang các lĩnh vực phục vụ chuyển dịch năng lượng, phù hợp định hướng của thành phố là phát triển trung tâm R&D, logistics và công nghiệp công nghệ cao.

Về công nghệ - đổi mới, Petrovietnam tích lũy năng lực triển khai công nghệ phức tạp từ khai thác dầu khí ngoài khơi, hệ thống đường ống khí dài hàng trăm km, sử dụng hiệu quả khí và LNG tại các nhà máy nhiệt điện và nhà máy phân bón đến dịch vụ kỹ thuật biển. Đây là nền tảng để thành phố tham gia các lĩnh vực mới như LNG - hydrogen - lưu trữ năng lượng - số hóa năng lượng - thu giữ và lưu trữ carbon, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và hướng đến đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Về tài chính xanh, Petrovietnam sở hữu quy mô tài sản và dòng tiền lớn, từng triển khai nhiều dự án hàng tỷ USD. Kết hợp với PPP/BOT/BOO, trái phiếu xanh và hợp tác quốc tế, Tập đoàn có thể gia tăng khả năng thu hút vốn tư nhân và FDI vào hạ tầng LNG, điện khí, điện gió ngoài khơi và logistics năng lượng của thành phố. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hạ tầng xanh chỉ hình thành khi có trụ cột tài chính đủ mạnh.

Tôi tin rằng khi ba năng lực này hội tụ, Petrovietnam có thể trở thành đối tác chiến lược của TP Hồ Chí Minh trong bảo đảm an ninh năng lượng, hỗ trợ chuyển dịch xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị.

PV: Theo ông, cần những cơ chế nào để Petrovietnam tiếp tục đóng góp lớn hơn vào phát triển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của thành phố?

TS Nguyễn Hữu Lương: Theo tôi, để Petrovietnam tiếp tục đóng góp lớn hơn cho phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero vào năm 2050 của TP Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt là phải có cách tiếp cận chiến lược đối với kinh tế năng lượng và vai trò của doanh nghiệp nhà nước chủ lực. Đây không chỉ là bài toán công nghệ hay thị trường, mà còn là câu chuyện thể chế, không gian phát triển và huy động nguồn lực.

Thứ nhất, về cơ chế - chính sách, thành phố cần mạnh dạn mở “không gian thử nghiệm” cho các mô hình năng lượng mới và chuyển dịch xanh. Khi có cơ chế linh hoạt hơn về thủ tục, thí điểm, ưu đãi và chia sẻ rủi ro, Petrovietnam sẽ phát huy được vai trò tiên phong của doanh nghiệp chủ lực nhà nước trong những dự án lớn, dài hạn và mang ý nghĩa công ích chiến lược.

Thứ hai, về hạ tầng và không gian phát triển, thành phố cần xác định năng lượng là một cấu phần quan trọng của sức cạnh tranh đô thị. Quy hoạch đồng bộ cảng biển, logistics, công nghiệp, khoa học - công nghệ, trung tâm dữ liệu và hạ tầng năng lượng sẽ quyết định khả năng hình thành các chuỗi sản xuất - dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Trong chuỗi đó, Petrovietnam có lợi thế rõ rệt về công nghiệp, nhân lực và năng lực triển khai dự án. Thành phố có thể song hành cùng Petrovietnam để phát triển các dự án trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái.

Thứ ba, về nguồn lực, thành phố cần thúc đẩy thị trường tài chính xanh để thu hút vốn dài hạn cho chuyển dịch năng lượng. Đây là điều kiện để mục tiêu Net Zero chuyển từ cam kết thành hiện thực.

Nếu những điều kiện này được triển khai đồng bộ, tôi tin rằng Petrovietnam sẽ tiếp tục là đối tác chiến lược của thành phố, vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo động lực tăng trưởng xanh và nâng cao sức cạnh tranh đô thị trong giai đoạn mới.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Mạnh Tưởng (thực hiện)

Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/luc-day-chuoi-nang-luong-tai-ba-ria-vung-tau-huong-toi-muc-tieu-net-zero-738492.html