Lược khảo tư liệu Chánh pháp Nhãn Tạng Thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa

Thiền phái Lâm Tế truyền vào Khánh Hòa từ những ngày đầu lập tỉnh và đã trở thành nền tảng tư tưởng cho Phật giáo Khánh Hòa. Bên cạnh những đóng góp về mặt tinh thần, hướng khởi thiện tâm quần chúng, Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng còn là nơi gìn giữ văn hóa Phật giáo, văn hóa Khánh Hòa, văn hóa dân tộc.

Tác giả: ĐĐ.Ths Thích Quảng Tâm

Học viện PGVN tại Huế, Phường An Cựu, Huế

Tóm tắt:

Di sản tư liệu Phật giáo xứ Trầm Hương nói chung, trong đó, mảng di sản tư liệu liên quan đến thiền phái Lâm Tế trên đất Khánh Hòa, kể từ thế kỷ XVIII trở đi, có thể nói là rất phong phú và đa dạng, từ chuông tượng, pháp khí, điển tịch cổ, ván khắc, văn bản Hán Nôm đến các loại hình kiến trúc, điêu khắc, hội họa,... Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau từ khách quan đến chủ quan mà hầu hết các nguồn sử liệu hay di sản quý giá cũng bị hủy hoại dần theo thời gian. Qua khảo cứu một số ngôi tổ đình lớn tại Khánh Hòa như tổ đình Sắc tứ Hội Phước, tổ đình Sắc tứ Linh Sơn, tổ đình Sắc tứ Thiên Bửu, tổ đình Vạn Thiện,…đến nay may mắn vẫn còn lưu giữ được một số lượng tương đối các di sản và tư liệu quý, đặc biệt là chánh pháp nhãn tạng, một tư liệu vô cùng giá trị về mặt “tiếp hương nối mạch” của thiền môn Phật giáo xứ trầm hương. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi lược bày một số chánh pháp nhãn tạng đại biểu cho ba thiền phái lớn của dòng thiền Lâm Tế là Vạn Phong Thời Úy, Chúc Thánh và đặc biệt là Liễu Quán.

Từ khóa: Chánh pháp nhãn tạng thiền phái Lâm Tế Khánh Hòa, thiền phái Lâm Tế Khánh Hòa, chánh pháp nhãn tạng Phật giáo Khánh Hòa…

1. Tổng quan về thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa

Sau khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập dinh Thái Khang (1653), hàng nghìn lưu dân được chúa khuyến khích vào khai khẩn canh tác và định cư ở vùng đất mới. Trong đoàn người ấy, có không ít các vị tu sĩ Phật giáo người Việt lẫn người Hoa thuộc năm kệ phái khác nhau của dòng thiền Lâm Tế.

Giống với các vùng đất khác ở Đàng Trong, pháp phái Lâm Tế đầu tiên vào Khánh Hòa là dòng Lâm Tế Trí Bản Đột Không. Tại Khánh Hòa, tổ sư truyền thừa nhánh Trí Bản là tổ sư Minh Thiện khai sơn chùa Minh Thiện (Diên Khánh) và tổ sư Tịch Viễn(1) đồng khai sơn tổ đình Hội Phước (Nha Trang). Tổ sư Minh Thiện (1653-1675) hay còn gọi là Giác Sanh Thiền Hòa Tử, nối dòng Lâm Tế Trí Bản Đột Không thế hệ thứ 32, là đệ tử của 2 tổ sư Viên Khoan Đại Thâm, Viên Cảnh Lục Hồ.

Sau dòng thiền Trí Bản Đột Không là dòng Vạn Phong Thời Úy. Sự hiện diện của thiền phái này được biết đến bởi tổ sư Minh Lượng Thành Đẳng (1686-1769)(2) tại chùa Bửu Phong ở thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vạn Phong Thời Úy được xem là pháp phái phát triển sớm nhất của phái thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa (thế kỷ XVII – XIX). Mạch truyền của tổ sư Minh Lượng nối nhau hoằng dương chánh pháp một cách sâu rộng, đặc biệt có 3 ngài là tổ sư Thiệt Địa Pháp Ấn, tổ sư Thiệt Phú(3) và tổ sư Thiệt Vinh Bửu Hạnh.

Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Khánh Hòa khởi nguyên từ tổ sư Pháp Thân hiệu Đạo Minh (1683-1802) khai sơn chùa Thiên Tứ năm 1744. Tổ nối pháp đời 36 tông Lâm Tế, thuộc thế hệ thứ 3 dòng Chúc Thánh, là pháp tử của tổ sư Thiệt Dinh Chánh Hiển. Năm 1802, Tổ viên tịch trong tư thế kiết-già, tháp được dựng trên đồi núi Đất đến nay vẫn còn.

Tổ sư thứ hai là Chương Chí Thiên Phước Bảo Tịnh(4), nối đời 38 tông Lâm Tế, thuộc thế hệ thứ 5 dòng thiền Chúc Thánh. Trong khoảng những năm từ 1802 đến 1808, ngài khai sơn chùa Thiên Ân. Tổ sư Chương Chí là một trong những danh tăng xứ Khánh Hòa được vua Minh Mạng mời về kinh tham gia đại lễ kỳ siêu Thủy lục Đạo tràng (1835). Sau khi đạo tràng hoàn mãn, ngài được vua cho ban Giới đao độ điệp(5), hưởng được nhiều ưu đãi của triều đình theo chế độ của Tăng cang.

Tổ sư thứ ba là Chương Huấn Tông Giáo, nối đời 38 tông Lâm tế, thuộc thế hệ thứ 5 dòng thiền Chúc Thánh. Sử liệu cho biết ngài trú trì chùa An Dưỡng (Nha Trang) nhưng không ghi rõ thời gian kế thế. Tài liệu hiếm có và duy nhất nhắc đến Tổ là bộ Đại khoa Du-già do ngài đứng khắc vào ngày mùng 3 tháng 5 năm Nhâm Thìn [1832]. Sau ngài Chương Huấn mạch pháp của dòng Chúc Thánh tại đất Khánh Hòa không còn nữa. Mãi đến năm 1894(6) hòa thượng Chơn Hương Thiên Quang từ Phú Yên vào trú trì tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh) và hòa thượng Như Cự Giải Thức trú trì tổ đình Hội Phước (1895) thì dòng thiền Chúc Thánh mới mở rộng mạch pháp đến ngày nay.

Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán tại Khánh Hòa khởi lai từ tổ Tế Hiển Bửu Dương tại tổ đình Thiên Bửu (thượng) thôn Điềm Tịnh, thị xã Ninh Hòa, là nhánh truyền rộng nhất của dòng thiền Liễu Quán Khánh Hòa. Về sau phát triển đến các tỉnh Nam, Trung Việt và Tây Nguyên như Phú Yên, Bình Thuận, Đồng Nai, Vũng Tàu, Sài Gòn, Long An.

Chánh pháp Nhãn tạng- do thiền sư Hải Hội Chánh Niệm truyền cho đệ tử Thanh Minh Huệ Châu năm Quý Mão [1903], lưu bản tại tổ đình Hội Phước, Nha Trang.

Chánh pháp Nhãn tạng- do thiền sư Hải Hội Chánh Niệm truyền cho đệ tử Thanh Minh Huệ Châu năm Quý Mão [1903], lưu bản tại tổ đình Hội Phước, Nha Trang.

2. Chánh pháp Nhãn tạng thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa

Chánh pháp: Pháp chơn chánh, thanh tịnh, Pháp Phật. Nhãn: Mắt, tức là mắt tâm, mắt trí. Tạng: Bao tàng tất cả thiện pháp. Chánh pháp, nhãn tạng là phép truyền Đạo một cách bí mật giữa Phật với Phật, Tổ với Tổ, dẫu cho truyền ở giữa đông người, mà chỉ có hai người, người truyền và người thọ biết nhau mà thôi. Ấy là sự truyền trao Phật quả, hoặc ngôi vị Tổ sư. Như đức Phật Thích Ca trên Hội tại núi Linh Sơn, truyền Chánh pháp nhãn tạng cho ngài Ma ha Ca Diếp, ngài Ca Diếp truyền cho ngài A Nan, lần lượt vị nầy nối tiếp vị kia cho đến ngài Bồ Đề Đạt Ma là Tổ sư đời thứ 28 bên Thiên Trước. Chánh pháp nhãn tạng là phép truyền tâm ấn của Thiền tông, truyền một cách đặc biệt ngoài giáo phái. Cũng kêu: Thanh tịnh pháp nhãn(7).

Chánh pháp nhãn tạng Phật giáo nước ta còn gọi là Pháp quyển. Loại văn bản này được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất làm cầu nối cho sự truyền thừa của một thiền phái. Thiền phái Liễu Quán tại Khánh Hòa cũng sử dụng hình thức văn bản này để ấn chứng truyền thừa cho các đệ tử. Trong quá trình khảo sát điền dã, người viết tìm được không ít Chánh pháp nhãn tạng của chư tổ dòng Liễu Quán. Ngoài ra, cũng phát hiện ra một số Chánh pháp nhãn tạng của các thiền phái khác như dòng thiền Lâm Tế Vạn Phong Thời Úy và thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Về hình thức, Chánh pháp nhãn tạng thường được trình bày nội dung chữ Hán trên giấy xuyến chỉ hoặc giấy dó, để trắng nguyên gốc hoặc nhuộm vàng; khổ giấy thông thường có chiều rộng từ 27cm đến 40cm, chiều dài từ 160cm đến 400cm tùy theo dung lượng nội dung. Đây là dạng văn bản viết bằng tay hoặc khắc ván, sử dụng nhiều lối hành thư khác nhau, kiểu chữ chân hoặc hành. Trên mỗi pháp quyển này thông thường đều xuất hiện bốn loại ấn triện son khác nhau theo nhiều kích thước như: Triện “Phật Pháp Tăng Ấn” hình vuông, có kích thước lớn nhất 7cm x 7cm đóng vào dòng niên đại; triện “Phật Tổ Tông Phong” hình ô van, có kích thước 3cm x 5cm đóng ở bốn chữ Chánh Pháp Nhãn Tạng đầu tiên; triện pháp danh và pháp tự của bổn sư phó chúc đóng ngay ở dòng có ghi tên mình; triện của đệ tử được phú pháp cũng với loại ấn như thế.

Về nội dung, Chánh pháp nhãn tạng chia làm ba phần: Phần tiêu đề, phần nội dung chính và phần niên đại. Phần tiêu đề đều ghi bốn chữ “Chánh Pháp Nhãn Tạng”; phần niên đại bắt đầu từ niên hiệu của vua hoặc tuế thứ; phần nội dung chính lại chia làm hai mục, mục đầu phụng kê tôn hiệu từ đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật xuống tận tôn hiệu của vị bổn sư ban kệ phó chúc và vị đệ tử được phó chúc, mục sau là nội dung bài kệ phó chúc.

Dưới đây lược trích nội dung một số Chánh pháp nhãn tạng tiêu biểu thuộc ba thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa mà người viết sưu tầm:

[1] Chánh pháp nhãn tạng thuộc nhánh truyền thừa của ngài Tế Hiển Bửu Dương tại Khánh Hòa, do Tổ Đạo An Phổ Nhuận phó chúc cho tổ sư Tánh Lý Trí Minh, vào niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất, ngày 5 tháng 5 năm Tân Sửu [1841]. Nội dung ghi:

正法眼藏…

第三十五世實耀了觀和尚

第三十六世際顯寶楊和尚

第三十七世大通正念和尚

第三十八世道安普潤和尚

謂法門中之龍象也是將從上源流卷子如是展轉及至於我于今付囑:

法名性理上智下明大師。

會福寺和尚付囑

紹治元年五月初五日

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG…

Đệ tam thập ngũ thế Thiệt Diệu Liễu Quán Hòa thượng

Đệ tam thập lục thế Tế Hiển Bửu Dương Hòa thượng

Đệ tam thập thất thế Đại Thông Chánh Niệm Hòa thượng

Đệ tam thập bát thế Đạo An Phổ Nhuận Hòa thượng

Vị pháp môn trung chi long tượng dã thị tương tùng thượng nguyên lưu quyển tử như thị triển chuyển cập chí ư ngã vu kim phú chúc:

Pháp danh Tánh lý thượng Trí hạ Minh Đại sư”

Hội Phước tự Hòa thượng phó chúc.

Thiệu Trị nguyên niên ngũ nguyệt sơ ngũ nhật.

[2] Chánh pháp nhãn tạng thuộc nhánh truyền thừa của ngài Tế Nhơn Hữu Phỉ(8), do Tổ Hải Hội Chánh Niệm chùa Long Hòa (Bà Rịa - Vũng Tàu) phó chúc cho Tổ Thanh Minh Huệ Châu, ngày 4 tháng 10 năm Quý Mão [1903], hiện lưu giữ tại tổ đình Hội Phước:

正法眼藏…
三十五世天台實耀了觀和尚
三十六世有裴際仁和尚
三十七世大光至誠和尚
三十八世諱道除廣處和尚
三十九世諱性 如普際和尚。。。
隆和寺四十世諱海會上正下念和上
付囑:臨濟正宗四十一世諱淸明尚慧下珠大師。
歲次癸卯年十月初四日。

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG…

Tam Thập ngũ thế Thiên Thai Thiệt Diệu Liễu Quán Hòa thượng

Tam thập lục thế Hữu Bùi Tế Nhơn Hòa thượng

Tam thập thất thế Đại Quang Chí Thành Hòa thượng

Tam thập bát thế húy Đạo Trừ Quảng Xứ Hòa thượng

Tam thập cửu thế húy Tánh Như Phổ Tế Hòa thượng...

Long Hòa tự Tứ thập thế húy Hải Hội thượng Chánh hạ Niệm Hòa thượng

Phó chúc: Lâm Tế chánh tông tứ thập nhất thế húy Thanh Minh thượng Huệ hạ Châu đại sư.

Tuế thứ Quý Mão niên thập nguyệt sơ tứ nhật.

[3] Chánh pháp nhãn tạng của Tổ Ấn Chánh Huệ Minh phó chúc cho đệ tử Tổ Chơn Hương Thiên Quang, vào ngày 15 tháng 5 năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 5 [1894]; hiện lưu tại tổ đình Linh Sơn:

正法眼藏…
第三十三世諱超白上煥下碧號壽宗和尚
第三十四世諱明海號得致法寳和尚
第三十五世諱實營號正顯恩霑和尚
第三十六世諱法専律傳妙嚴和尚
第三十七代諱全體號為良靈源和尚
第三十八世諱章如號宗至慈意和上
第三十九世諱印正號祖宗惠明和尚。。。
嗣臨濟正宗四十世諱上真 下香號天光大師依法奉行。
歲庶甲午年五月十五日。寶山授記。

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG…

Đệ tam thập tam thế húy Siêu Bạch thượng Hoán Hạ Bích hiệu Thọ Tôn Hòa thượng

Đệ Tam thập tứ thế húy Minh Hải hiệu Đắc Trí Pháp Bảo Hòa thượng

Đệ tam thập ngũ thế húy Thiệt Dinh hiệu Chánh Hiển Ân Triêm Hòa thượng

Đệ tam thập lục thế húy Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm Hòa thượng

Đệ tam thập thất đại húy Toàn Thể hiệu Vi Lương Linh Nguyên Hòa thượng

Đệ tam thập bát thế húy Chương Như hiệu Tông Chí Từ Ý Hòa thượng

Đệ tam thập cửu thế húy Ấn Chánh hiệu Tổ Tông Huệ Minh Hòa thượng...

Từ Lâm Tế chánh tông tứ thập thế húy thượng Chơn hạ Hương hiệu Thiên Quang đại sư y pháp phụng hành.

Tuế thứ Giáp Ngọ niên ngũ nguyệt thập ngũ nhật. Bảo Sơn thọ ký.

[4] Chánh pháp nhãn tạng do Hòa thượng Liễu Đức Huệ Giáo phó chúc cho đệ tử Đạt Thiệt Bảo Thành, ngày15 tháng 5 năm Kỷ Dậu [1849] tại Tổ đình Thiên Phước (Ninh hòa):

正法眼藏…
第三十三世元韶壽尊禪師
第三十四世明亮玥殷禪師
第三十五世實地法印禪師
第三十六世際真 弘恂禪師
第三十七代了德慧教禪師
傳臨濟譜三十七代諱了德上慧下教導師付囑
嗣臨濟譜三十八世諱達舌上寳下誠大師
天運己酉年五月十五日

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG…

Đệ tam thập tam thế Nguyên Thiều Thọ Tôn thiền sư

Đệ tam thập tứ thế Minh Lượng Nguyệt Ân thiền sư

Đệ tam thập ngũ thế Thiệt Địa Pháp Ấn thiền sư

Đệ tam thập lục thế Tế Chơn Hoằng Tuân thiền sư

Đệ tam thập thất đại Liễu Đức Huệ Giáo thiền sư

Truyền Lâm Tế phổ tam thập thất đại húy Liễu Đức thượng Huệ hạ Giáo đạo sư phó chúc

Tự Lâm Tế phổ tam thập bát thế húy Đạt Thiệt thượng Bảo hạ Thành đại sư

Thiên vận Kỷ Dậu niên ngũ nguyệt thập ngũ nhật

3. Lời kết

Thiền phái Lâm Tế truyền vào Khánh Hòa từ những ngày đầu lập tỉnh và đã trở thành nền tảng tư tưởng cho Phật giáo Khánh Hòa. Bên cạnh những đóng góp về mặt tinh thần, hướng khởi thiện tâm quần chúng, Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng còn là nơi gìn giữ văn hóa Phật giáo, văn hóa Khánh Hòa, văn hóa dân tộc. Chánh pháp nhãn tạng là tư liệu vô cùng quý báu, không những lưu giữ lại huyết mạch truyền thừa thiền phái Lâm Tế, mà qua từng con chữ ấy còn vẽ nên một trang thanh sử hào hùng của Phật giáo xứ Trầm hương. Đồng thời, hy vọng qua số tư liệu ít ỏi này mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các học giả lưu tâm đến Phật giáo Khánh Hòa.

Tác giả: ĐĐ.Ths Thích Quảng Tâm - Học viện PGVN tại Huế

***

[1] Tổ sư Tịch Viễn hiện vẫn chưa rõ nguồn gốc. Sau khi viên tịch chưa tìm thấy thông tin truyền nhân.

[2] Tổ sư Minh Lượng Thành Đẳng họ Lý, hiệu Nguyệt Ân, sinh ngày 16 tháng 4 năm Bính Dần [1686], quê huyện Triều Châu tỉnh Quảng Đông. Tổ sư nối dòng Lâm Tế thế hệ 34, viên tịch vào ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu [1769].

[3] Hiện nay chưa có sử liệu nào chứng minh tổ sư Thiệt Phú là đệ tử của tổ sư Minh Lượng như tổ sư Thiệt Địa Pháp Ấn.

[4]Ngài thế danh là Huỳnh Văn Dự, sinh năm Ất Hợi [1755], người làng Phú Vinh, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên. sau vào xã Phước Thuận, tổng Phước Khiêm, phủ Tân Định (Ninh Hòa ngày nay).

[5] Độ điệp hiện nay được lưu giữ tại tổ đình Thiên Bửu hạ, giới đao có lẽ đã thất lạc trong những năm tháng chiến tranh.

[6] Căn cứ theo chánh pháp nhãn tạng do tổ Ấn Chánh Huệ Minh truyền cho tổ Chơn Hương Thiên Quang hiện lưu tại tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh).

[7] Theo từ điển Phật học Hán Việt của Đoàn Trung Còn

[8] Qua khảo sát một số tư liệu tại tổ đình Thiền Tôn (Huế) tổ Tế Nhơn đứng tên trong một số văn bản có hiệu là Hữu Phỉ. Có lẽ vì chữ Phỉ 斐(trên bộ phi dưới bộ văn) dễ nhầm lẫn chữ Bùi 裴(trên bộ phi dưới bộ y).

Nguồn Tạp chí Phật học: https://tapchinghiencuuphathoc.vn/luoc-khao-tu-lieu-chanh-phap-nhan-tang-thien-phai-lam-te-tai-khanh-hoa.html