Mã số vùng trồng cho nông sản Điện Biên
Mỗi vùng trồng được định danh vừa gắn thêm một mã số, vừa thêm một “địa chỉ” để nhận diện nguồn gốc, quy trình sản xuất và chất lượng nông sản. Với Điện Biên, nơi đang hình thành những vùng sản xuất cà phê, mắc ca, chè, cây ăn quả và lúa hàng hóa, việc xây dựng cơ sở dữ liệu, cấp và quản lý mã số vùng trồng (MSVT) đang mở hướng đi mới trong tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và nâng giá trị nông sản địa phương.
Công tác đo đạc, xác định vị trí vùng trồng tại xã Pu Nhi đang đặt những viên gạch đầu tiên cho cách quản lý mới xác định bằng dữ liệu cụ thể cho vị trí, diện tích và cây trồng các vùng nguyên liệu.
Xã Pu Nhi được giao chỉ tiêu xây dựng và quản lý MSVT trên diện tích 6ha (năm 2026), 12ha (năm 2027), phấn đấu đạt 37ha đối với diện tích trồng cà phê và mắc ca. Xã đã tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm Open Foris Ground cho trưởng bản, đoàn viên thanh niên tại các bản, cán bộ Phòng Kinh tế, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, kiểm lâm địa bàn và đơn vị tư vấn. Sau tập huấn, việc thu thập dữ liệu được triển khai trực tiếp ngoài thực địa. Đến nay, xã đã khảo sát, đo đạc tại 5 bản Nậm Ngám, Dê Chơ, Phù Lồng, Tìa Ló và Pu Nhi. Bước đầu xác định vị trí, diện tích một số vùng trồng, tạo dữ liệu phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu.
Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các khu vực sản xuất phân tán khiến công việc không đơn giản. Thời điểm triển khai lại gặp mùa mưa nên việc đi lại, đo đạc bị ảnh hưởng. Vì vậy, toàn bộ diện tích cần cập nhật chưa thể hoàn thành trong một lần. Cơ sở dữ liệu vùng trồng đang được xây dựng, bổ sung từng bước.
Theo ông Nguyễn Quốc Tiến, Trưởng phòng Kinh tế xã Pu Nhi, địa phương tiếp tục phối hợp với đơn vị tư vấn và các lực lượng tại cơ sở rà soát, đo đạc diện tích còn lại. Cập nhật dữ liệu trên phần mềm Open Foris Ground, kiểm tra và bổ sung thông tin sau đo đạc, từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng, phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu liên quan đến EUDR.

Cà phê - một trong những cây chủ lực đang được các địa phương trong tỉnh tập trung thực hiện cấp MSVT.
Đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 16 MSVT nội địa với tổng diện tích gần 80ha trên các nhóm cây ăn quả, chè, cà phê, mắc ca và lúa. Quy mô này còn khiêm tốn so với diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh, nhưng những vùng đã được cấp mã số đang tạo ra những thay đổi cụ thể trong cách tổ chức sản xuất. Các điều kiện theo quy định được duy trì, việc ghi chép sản xuất, quản lý dịch hại, sử dụng vật tư nông nghiệp đúng tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc được chú trọng hơn.
Khi những yêu cầu ấy trở thành thói quen, người nông dân bắt đầu quan tâm đến việc sản phẩm được tạo ra như thế nào và có thể chứng minh điều đó ra sao. Cơ quan quản lý cũng có thêm dữ liệu để theo dõi vùng sản xuất, cảnh báo dịch bệnh, ước lượng năng suất. Hợp tác xã, doanh nghiệp có thêm căn cứ để tổ chức vùng nguyên liệu và kiểm soát nguồn cung.
Một mã số chỉ thực sự có giá trị khi phía sau nó là vùng nguyên liệu ổn định, người sản xuất tuân thủ quy trình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tham gia liên kết và có thị trường tiêu thụ. Điện Biên sở hữu nguồn tài nguyên sinh học phong phú, điều kiện sinh thái đa dạng cùng nhiều tri thức bản địa, tạo nền tảng phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Cà phê Arabica được đánh giá có tiềm năng xây dựng thương hiệu đặc sản. Khoảng 70% diện tích chè của tỉnh là các giống chất lượng cao, đang từng bước được cơ giới hóa trong chăm sóc, thu hoạch. Các loại cây ăn quả như xoài, chuối, cam, bưởi, mận, lê và cây mắc ca đang mở ra thêm những hướng phát triển mới cho nhiều địa phương trong tỉnh.

Năm 2026, xã Mường Ảng được giao chỉ tiêu cấp và quản lý MSVT cho 18ha cà phê, mắc ca.
Tuy nhiên, khi thị trường ngày càng yêu cầu cao về nguồn gốc và quy trình sản xuất, lợi thế tự nhiên phải được chuyển thành lợi thế có thể kiểm chứng bằng dữ liệu và tiêu chuẩn. Một vùng cà phê có chất lượng tốt nhưng không xác định được nguồn nguyên liệu, không kiểm soát được quy trình sản xuất sẽ khó đáp ứng những thị trường có yêu cầu cao. Ngược lại, khi vùng trồng được định danh, dữ liệu được cập nhật và quy trình được kiểm soát, sản phẩm có thêm cơ sở để xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Diễn đàn “Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên” tổ chức giữa tháng 7 vừa qua, lãnh đạo UBND tỉnh nhấn mạnh, những yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, MSVT, tiêu chuẩn môi trường và các cam kết giảm phát thải vừa mở ra cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với ngành Nông nghiệp địa phương.
Thách thức càng rõ khi sản xuất của Điện Biên vẫn còn những khu vực nhỏ lẻ, phân tán, địa hình phức tạp. Muốn hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, đáp ứng yêu cầu của thị trường, MSVT phải gắn với quá trình rà soát, quy hoạch vùng sản xuất tập trung, tổ chức lại sản xuất và hình thành các liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp.

Xã Thanh Yên đang tập trung cấp và quản lý MSVT trên rau màu và cây ăn quả.
Đây cũng là hướng được tỉnh xác định trong Kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu; cấp và quản lý MSVT, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, toàn tỉnh sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu đối với khoảng 50.000ha vùng trồng cây trồng chủ lực, cây trồng có lợi thế, vùng sản xuất tập trung và các vùng có nhu cầu cấp mã số. Cấp mới 1.500 MSVT, vơi khoảng 30 mã phục vụ xuất khẩu, gắn với vùng nguyên liệu, cơ sở sơ chế, chế biến và chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ phù hợp.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về MSVT, mã số cơ sở đóng gói, theo hướng đẩy mạnh số hóa, phân cấp và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân thực hiện khai báo trên môi trường mạng và tự chịu trách nhiệm về thông tin; hồ sơ đề nghị cấp mã số nộp qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói
Với Điện Biên, mở rộng MSVT không đơn thuần là tăng thêm những vùng được định danh, mà là từng bước chuẩn hóa vùng nguyên liệu, gắn sản xuất với truy xuất nguồn gốc và liên kết thị trường. Khi mỗi mã số của một vùng trồng được quản lý thực chất, lợi thế của nông sản địa phương sẽ được chuyển hóa thành giá trị ngay từ nơi sản xuất.
