Mặt trái của trào lưu nhận con nuôi gốc Hàn nhiều thập kỷ trước

Một trào lưu dựa trên nhu cầu đã đẩy hơn 200.000 trẻ em Hàn Quốc ra nước ngoài làm con nuôi với không ít lời nói dối về thân thế của chúng. Hàng chục năm sau, sự thực vỡ lở khi những 'đứa trẻ mồ côi' thời ấy tìm về nguồn cội của mình. Hiện Hàn Quốc đang lên kế hoạch chấm dứt việc nhận con nuôi ra nước ngoài vào năm 2029.

Hai chị em ruột Anna Samuelsson 59 tuổi (trái) và Catherine Harned, 57 tuổi

Tổng thống cũng cảm thấy “nặng lòng”

Một bài hát thiếu nhi Hàn Quốc vang lên, đó là giọng hát của một bé gái được thu âm từ nhiều thập kỷ trước. Nhưng bà Anna Samuelsson (59 tuổi) không nhận ra giọng hát ấy dù nó chính là giọng của bà (khi mới 5 tuổi và vừa từ Hàn Quốc đến Thụy Điển). Tới nay, những đứa trẻ ngày ấy dường như xa lạ, tiếng mẹ đẻ đã mất và những ký ức nằm ngoài tầm với.

Bà Catherine Harned (57 tuổi) cũng hiểu cảm giác đó. Khi đến Texas năm 7 tuổi, bà vẫn nói tiếng Hàn. Nhưng chỉ trong vài năm, bà không chỉ mất đi tiếng Hàn mà còn mất đi phần lớn ký ức tuổi thơ. Harned và Samuelsson là chị em ruột, họ được nhận nuôi cách nhau vài tuần vào năm 1974 từ 2 trại trẻ mồ côi ở Seoul. Họ lớn lên ở 2 châu lục khác nhau và không hề biết đến sự tồn tại của nhau.

Họ nằm trong số hơn 200.000 trẻ em Hàn Quốc được gửi đến sống với các gia đình ở nước ngoài. Nhiều em trong số đó được gắn mác “trẻ mồ côi”. “Việc tạo ra những đứa trẻ “mồ côi” liên quan đến vấn đề tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa trẻ em ra nước ngoài, bất chấp không phải sự thật” - bà Eleana Kim, giáo sư về nhân chủng học và nghiên cứu người Mỹ gốc Á tại Đại học California cho biết.

Tại Hàn Quốc những năm 1970, việc cho trẻ làm con nuôi ở nước ngoài trở thành giải pháp cho những áp lực xã hội, từ sự kỳ thị đối với trẻ em lai và các bà mẹ chưa kết hôn, đến nghèo đói và quá trình hiện đại hóa nhanh chóng. Nó cũng được thúc đẩy bởi nhu cầu từ phương Tây, nơi số lượng trẻ để nhận nuôi ngày càng khan hiếm. Theo thống kê khi đó, con nuôi gốc nước ngoài (phần lớn đến từ Hàn Quốc) chiếm 1 - 2% số trẻ sơ sinh ở Thụy Điển.

Catherine Harned được nhận nuôi thông qua tổ chức Holt Children’s Services, nơi bà Bertha Holt, một tín đồ Tin Lành sùng đạo, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa những đứa trẻ Hàn Quốc được nhận nuôi đến với các gia đình ở nước ngoài. Thông thường, câu chuyện của những đứa trẻ được biến hóa sao cho cha mẹ nuôi dễ chấp nhận, ví dụ như chúng bị bỏ rơi, được giải cứu, được trao một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên năm ngoái, Ủy ban Sự thật và hòa giải của Hàn Quốc đã phát hiện ra, chương trình nhận con nuôi (vốn kéo dài hàng thập kỷ) đã tràn lan gian lận, bao gồm cả việc làm giả hồ sơ và các trường hợp trẻ em bị “dán nhãn sai” là trẻ mồ côi.

Vài tháng sau, Tổng thống Lee Jae Myung đã đưa ra lời xin lỗi công khai tới những người con nuôi và gia đình của họ, thừa nhận sự “vi phạm nhân quyền bất công” của các cơ quan nhà nước. Trong bài đăng trên Facebook, ông bày tỏ là thấy “nặng lòng” khi nghĩ về “nỗi lo lắng, đau đớn và hoang mang” mà nhiều người đã trải qua, đồng thời cam kết hỗ trợ những người con nuôi đang cố gắng tìm kiếm nguồn gốc của mình. Đối với nhiều người, cuộc tìm kiếm đó đã quá muộn.

Khoảnh khắc hai anh em ruột Chase Malmgren và Mary Bowers, những người con nuôi gốc Hàn Quốc tại Mỹ, lần đầu gặp nhau vào năm 2024

Những lời nói dối của quá khứ

Mary Bowers (hiện 44 tuổi) được một gia đình ở Colorado (Mỹ) nhận nuôi từ khi mới 6 tháng tuổi. Bà luôn tin rằng mình là trẻ mồ côi vì giấy khai sinh ghi như vậy. “Khi vào đại học, tôi cần giấy tờ nhận con nuôi của mình. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tên của 2 người, một người mẹ và một người cha trong giấy tờ của mình” - bà kể. Càng tìm hiểu sâu, câu chuyện về nguồn gốc của Mary Bowers càng trở nên mơ hồ. Theo hồ sơ, mẹ của Bowers chỉ nhận ra mình mang thai sau khi tình yêu tan vỡ và bà quá nghèo để nuôi con. Nhưng khi Bowers so sánh giấy tờ của mình với những người con nuôi khác từ cùng một cơ quan cấp, bà thấy chúng giống nhau y hệt, thậm chí giống đến từng chữ.

Vào năm 2024, qua so sánh DNA, bà phát hiện mình có một cậu em ruột tên là Chase Malmgren, được nhận nuôi ở Utah khi còn nhỏ. Nhưng cha mẹ nuôi của Chase Malmgren kể rằng, mẹ đẻ của anh kết hôn với một người, nhưng lại trót mang thai với người khác nên đành phải cho con đi. Đó là một câu chuyện hoàn chỉnh, nhưng nó lại không hề khớp với hồ sơ của Bowers.

Đối với những người khác, sự thật còn đau lòng hơn. Madeleine Bjork (hiện 43 tuổi) được một gia đình ở Thụy Điển nhận nuôi khi mới 2 tuổi. Bà lớn lên với niềm tin rằng mình bị gia đình cho đi vì gặp khó khăn thời hậu chiến. Khi gặp lại gia đình ruột thịt, một bức tranh khác hiện ra. Đó là cha mẹ bà chưa hề kết hôn, người cha bỏ đi khi bà mới 2 tháng tuổi. Chính bà ngoại đã gửi Madeleine Bjork vào trại trẻ mồ côi mà không có sự đồng ý của con gái mình. Khi người mẹ cố gắng đón con về thì đã “quá muộn” vì giấy tờ nhận nuôi đã được ký. “Khi biết chuyện này, tôi đã suy nghĩ rất nhiều, bởi vì tôi cũng có con” - bà Bjork nghẹn ngào kìm nén tiếng nấc. “Khi tôi gặp lại mẹ đẻ, tôi thấy rõ ràng là bà ấy đã phải chịu đựng rất nhiều. Tôi nghĩ bà ấy đã vô cùng đau khổ vì tôi bị cho đi”.

Thậm chí, có những trường hợp nhận con nuôi mà hoàn toàn không có sự đồng ý nào cả. Han Tae-soon (người mẹ đầu tiên kiện chính phủ và tổ chức Holt Children’s Services) đã mất con gái khi cô bé mới 4 tuổi. “Họ đã đưa con bé đi khi nó đang chơi trước nhà. Họ đã bắt cóc nó. Sau 7 tháng ở trại trẻ mồ côi, con bé được một gia đình Mỹ nhận nuôi. Nó đã sống với suy nghĩ rằng tôi đã đem bán nó”.

Không giống như truyện cổ tích

Đối với Philip Pellouchoud, câu chuyện của ông có lẽ cũng không khác biệt là mấy. Được nhận nuôi ở Colorado năm 1971 thông qua Holt Children’s Services, ông đã dành nhiều năm để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Hồ sơ duy nhất về cuộc sống thời thơ ấu của ông là một cái tên trong sổ lưu trữ của Trung tâm Trẻ em thất lạc. Trong hành trình tìm kiếm câu trả lời, ông Pellouchoud gần đây đã đến Hàn Quốc để tìm các cơ quan nhận con nuôi, trung tâm cộng đồng và thậm chí cả đồn cảnh sát. “Tôi đã làm tất cả các xét nghiệm ADN có thể” - ông nói. Khi gặp ông Bu Chung-ha - Chủ tịch Holt Children’s Services (từ năm 1972 - 1979) và trực tiếp xử lý hàng nghìn trường hợp nhận con nuôi, ông Pellouchoud được cho biết rằng, những quyết định nhận con nuôi này không được đưa ra ở Hàn Quốc mà ở các văn phòng tại Mỹ hoặc Pháp.

Ông Kim Do-hyun - Chủ tịch tổ chức KoRoot (tổ chức phi lợi nhuận chuyên hỗ trợ những người con nuôi trở về Hàn Quốc để tìm kiếm nguồn gốc) cho rằng, nhiều trường hợp không thể tìm được câu trả lời rõ ràng vì “không có hồ sơ, không có manh mối”. Ví dụ, trẻ thất lạc có thể được tuyên bố là đủ điều kiện để được nhận nuôi, vì công tác điều tra thời đó không được chú trọng, chưa kể vai trò của động cơ tài chính. “Các môi giới nhận nuôi một đứa trẻ có thể kiếm được số tiền bằng mức lương cả năm” - ông Kim Do-hyun nói.

Trong khi việc nhận con nuôi thường được coi là kết thúc có hậu, nhiều người con nuôi gốc Hàn lại có trải nghiệm khác. “Bạn giống như câu chuyện cổ tích đối với mọi người, ngoại trừ chính bản thân bạn” - bà Anna Samuelsson chia sẻ. Không ít người phải đối mặt với những định kiến chủng tộc công khai. Malmgren nhớ lại khi còn nhỏ bị gọi là “mắt rắn”, trong khi Harned nhớ mẹ nuôi gọi mái tóc dài đen nhánh của bà là “ổ chuột”. Joel Peterson, người mang dòng máu lai, phải đối mặt với sự kỳ thị từ cả 2 phía. Thời thơ ấu ở Hàn Quốc, ông thường bị bạn bè bắt nạt và gọi là con của gái làng chơi. Khi được nhận nuôi ở Minnesota vào năm 1970 (lúc 7 tuổi), ông vẫn bị xa lánh, trêu chọc và bị bắt nạt vì là người châu Á…

Năm 2025, một ủy ban của Chính phủ Thụy Điển đã khuyến nghị chấm dứt việc nhận con nuôi quốc tế sau khi họ phát hiện ra hàng thập kỷ gian lận, lạm dụng và các hành vi bất hợp pháp. Cũng trong năm đó, Hàn Quốc đã cấm việc nhận con nuôi thông qua các cơ quan tư nhân. Quốc gia này hiện đang lên kế hoạch chấm dứt việc nhận con nuôi ở nước ngoài vào năm 2029.

Yến Chi

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/mat-trai-cua-trao-luu-nhan-con-nuoi-goc-han-nhieu-thap-ky-truoc-post646088.antd