'Mẹ ơi, con đau quá!': Tiếng gọi xé lòng trước ngưỡng cửa hòa bình
Hơn nửa thế kỷ sau trận cầu Rạch Chiếc, cựu binh Nguyễn Đức Thọ vẫn ám ảnh khoảnh khắc bất lực nhìn đồng đội bị địch tra tấn cách 10m.
Video: Cựu binh Rừng Sác kể chuyện bất lực nhìn đồng đội bị tra tấn cách 10m.
Trong căn nhà nhỏ ấm cúng những ngày cuối tháng Tám, khi cả nước hướng về kỷ niệm Quốc khánh 2/9, phóng viên Báo Tiền Phong tìm gặp cựu chiến binh Nguyễn Đức Thọ (SN 1955, quê Thanh Hóa).

Cựu chiến binh Nguyễn Đức Thọ kể lại những ký ức về hơn 50 năm trước, khi ông là người lính đặc công nước. Ảnh: Nguyễn Tiến
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ mùa Xuân đại thắng năm 1975, nhưng ký ức về những năm tháng chiến đấu của người lính đặc công nước năm xưa vẫn vẹn nguyên, đặc biệt là trận huyết chiến tại cầu Rạch Chiếc và những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại.
Từ giọt máu rạch ngón tay đến lá đơn xin ra trận
Sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, cha là chiến sĩ Điện Biên, mẹ từng tham gia Ban Chấp hành Phụ nữ xã, chị gái là thanh niên xung phong, Nguyễn Đức Thọ sớm có ý thức về trách nhiệm với đất nước. Năm 1972, khi chiến trường miền Nam diễn biến ác liệt, chàng trai 17 tuổi quyết định gác việc học, viết đơn xin nhập ngũ.

Nguyễn Đức Thọ từng tự rạch ngón tay lấy máu viết đơn xin nhập ngũ khi mới 17 tuổi. Ảnh: Nguyễn Tiến
Nhận thấy lá đơn thông thường khó thuyết phục Hội đồng tuyển quân vì bản thân chưa đủ tuổi, ông đã tự rạch ngón tay, lấy máu viết nên bức tâm thư tình nguyện ra trận.
“Hồi đó, thanh niên ai cũng hừng hực khí thế, muốn lên đường đánh giặc để thống nhất đất nước. Tôi cũng vậy. Nhưng vì chưa đủ tuổi, biết viết đơn bình thường sẽ bị trả về, tôi quyết định rạch tay lấy máu viết đơn để thể hiện bằng được chí nguyện của mình.”
Lá huyết thư ấy đã giúp người thiếu niên 17 tuổi kiên cường chính thức có tên ở đầu danh sách những người tình nguyện ra chiến trường của địa phương năm đó.
Những đêm "bóng ma" Rừng Sác
Trúng tuyển vào Đặc công nước Hải quân, binh chủng tinh nhuệ bậc nhất, ông Thọ trải qua hơn một năm huấn luyện khắc nghiệt tại Cát Hải (Hải Phòng) và Quảng Ninh. Để làm chủ kỹ năng tác chiến, ông cùng đồng đội phải bơi lặn nhiều giờ dưới nước lạnh, mang vác vũ khí nặng và áp sát mục tiêu trong im lặng tuyệt đối mà không để lại bất kỳ gợn sóng nào.
“Nghe nói đến đặc công, đến những đơn vị đặc biệt với các chiến công lừng lẫy trên đài phát thanh, chúng tôi ngưỡng mộ lắm. Thần tượng các anh đi trước nên tôi quyết tâm rèn luyện bằng được, dù gian khổ đến mấy cũng không nản lòng”, ông Thọ chia sẻ.
Năm 1974, sau khi tinh thông nghiệp vụ, ông xẻ dọc Trường Sơn vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh), rồi được biên chế về đơn vị Z23, thuộc Lữ đoàn Đặc công biệt động 316.

Người lính đặc công nước năm xưa từng có nhiều ngày hoạt động giữa vùng sông nước Rừng Sác. Ảnh: Nguyễn Tiến
Đóng quân tại Bình Trưng Tây, ngay sát căn cứ địch ở cầu Rạch Chiếc, cuộc sống của bộ đội vô cùng khắc nghiệt. Ban ngày, trước tầm quét của trực thăng và những vệt chất độc hóa học làm trụi lá dừa nước, họ phải ngâm mình dưới bùn lầy để giấu mình. Khi đêm xuống, những người lính mới hóa thành "bóng ma" lặng lẽ thả mình xuống dòng nước mặn trinh sát cửa ngõ Sài Gòn.
"Suốt nhiều tháng, anh em thay phiên bơi, lặn trinh sát đến tận Bến Bạch Đằng. Sông rạch dày đặc, giang thuyền địch tuần tra liên tục; chỉ một tiếng rẽ nước vội hay một gợn sóng bất thường là hứng trọn đạn pháo. Nhưng ngày đó, làm gì biết sợ! Nếu sợ thì làm sao bơi lặn, làm sao đi đánh giặc?", ông Thọ xúc động kể lại những đêm trinh sát sinh tử.
Phát súng B40 mở màn trận đánh cầu Rạch Chiếc
Cuối tháng 4/1975, cầu Rạch Chiếc trở thành "tử huyệt" chiến lược chặn đường Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn. Để bảo vệ cây cầu huyết mạch này, đối phương bố trí hơn 2.000 quân, cùng hệ thống lô cốt bê tông, bãi mìn, đèn pha rực trời và sẵn sàng giật sập cầu nếu bị tấn công. Trưa 25/4, đơn vị Z23 nhận mệnh lệnh khẩn: Đánh chiếm và giữ nguyên vẹn cây cầu bằng mọi giá.

Những Huy chương treo trên ngực áo là sự ghi nhận những đóng góp của ông Nguyễn Đức Thọ trong chiến đấu và phục vụ quân đội. Ảnh: Nguyễn Tiến
Đêm 26/4, các chiến sĩ Z23 lặng lẽ áp sát hàng rào căn cứ. Nguyễn Đức Thọ là người được giao nhiệm vụ bắn phát súng B40 mở màn trận đánh. Đúng 3h15, rạng sáng 27/4/1975, giữa không khí căng đặc, ông Thọ nằm sát mép nước, nâng súng siết cò. Quả đạn xé tan đêm đen nhưng đáng tiếc lại lệch mục tiêu.
“Biết quả đạn đầu trượt, tôi hiểu mình không còn đường lùi. Nếu không dập tắt hỏa điểm này, đồng đội xông lên sẽ gánh thương vong lớn. Quên cả nguy hiểm, tôi đứng thẳng dậy ngay trước hỏa lực địch, nhắm thật chuẩn vào tháp canh rồi bóp cò lần hai. Đạn trúng đích! Tháp canh đổ nghiêng, khẩu đại liên bị tiêu diệt hoàn toàn”. Nhớ lại phút giây nghìn cân treo sợi tóc ấy, giọng ông Thọ như nghẹn lại.

Cầu Rạch Chiếc ngày nay. Ảnh: Nguyễn Tiến
Phát súng B40 ấy trở thành hiệu lệnh mở màn toàn tuyến. Chỉ sau 30 phút, Lữ đoàn 316 đã đập tan các lô cốt và hoàn toàn làm chủ cầu Rạch Chiếc. Tuy nhiên, trận chiến sinh tử mới thực sự bắt đầu. Sáng 27/4, đối phương phản công dữ dội bằng pháo binh, xe tăng và trực thăng, buộc lực lượng đặc công chịu nhiều tổn thất và tạm thời rút lui củng cố.
Đêm 29/4, lệnh tái chiếm được ban ra. Rạng sáng 30/4, các chiến sĩ đặc công nước từ dưới sông bất ngờ vọt lên đánh giáp lá cà, đập tan hoàn toàn sức kháng cự của kẻ thù. Đúng 7h sáng, những chiếc xe tăng đi đầu của Quân đoàn 2 rầm rập tiến qua cầu, mở phăng cánh cửa huyết mạch dẫn thẳng vào trung tâm Sài Gòn.
“Mẹ ơi, con đau quá!”
Đến 13h chiều ngày 30/4/1975, khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ông Thọ cùng đồng đội ôm chầm lấy nhau, nước mắt hòa lẫn bụi đường và máu.
“Lúc ấy, chúng tôi khóc vì hạnh phúc. Chúng tôi ôm lấy nhau mà nói trong nước mắt: Đất nước thống nhất rồi, hòa bình rồi, anh em đồng đội mình từ nay không còn phải hy sinh nữa!”, ông Thọ nghẹn ngào.
Thế nhưng, đằng sau niềm vui toàn thắng là những vết thương lòng không bao giờ lành. Trận đánh cầu Rạch Chiếc đã lấy đi biết bao người con ưu tú ngay trước ngưỡng cửa hòa bình.

Ký ức về những đồng đội đã hy sinh tại cầu Rạch Chiếc vẫn in đậm trong tâm trí ông Thọ. Ảnh: Nguyễn Tiến
Ánh mắt đượm buồn của người cựu chiến binh khi nhắc về những người anh em đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông Sài Gòn. Ông nhớ mãi hình ảnh Đại đội trưởng Thành bị thương dập nát chân, đồng đội đưa xuồng đến cứu nhưng ông kiên quyết từ chối để ở lại tiếp tục chỉ đạo chiến đấu.
Trong cơn sốt mê man vì vết thương hoại tử giữa chiến trường khốc liệt, người chỉ huy ấy thốt lên tiếng gọi thiết tha: “Mẹ ơi, con đau quá!”. Tiếng gọi mẹ xé lòng ấy đã trở thành vết xước nhói đau, theo ông Thọ suốt hơn nửa thế kỷ.


Cựu chiến binh Nguyễn Đức Thọ cùng đồng đội chụp ảnh lưu niệm tại cầu Hiền Lương, Di tích Lịch sử quốc gia đặc biệt, bắc qua sông Bến Hải, Quảng Trị. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Ông cũng không thể quên chiến sĩ Thất, người đã một mình nổ súng cầm chân hàng chục quân địch để đồng đội rút lui rồi hy sinh thân mình, hay nỗi dằn dặc bất lực khi đứng cách đồng đội bị địch bắt và tra tấn chỉ 10 mét mà không thể giải cứu vì đã cạn sạch đạn dược.
Hơn 50 năm trôi qua, lá huyết thư tuổi 17 và phát súng B40 rạng sáng 27/4 chưa bao giờ thuộc về quá khứ. Đó không chỉ là kỷ niệm riêng của một đời binh nghiệp, mà còn là biểu tượng kiêu hãnh của một thế hệ sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân đẹp nhất cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
