Mi-6, trực thăng vận tải khổng lồ của Liên Xô và dấu ấn tại Việt Nam
Mi-6 từng là trực thăng lớn nhất thế giới khi ra đời, được Liên Xô phát triển để đáp ứng nhu cầu vận tải hạng nặng và nhiệm vụ quân sự đặc biệt. Không chỉ phục vụ trong lực lượng vũ trang Liên Xô, loại trực thăng khổng lồ này còn được viện trợ cho Việt Nam, nơi nó gây ấn tượng mạnh với khả năng cẩu cả tiêm kích phản lực.
Trong giai đoạn cao trào của Chiến tranh Lạnh, yêu cầu cơ động lực lượng, vũ khí hạng nặng trên không trở thành ưu tiên chiến lược của Liên Xô.
Từ thực tế đó, Cục thiết kế Mil đã phát triển trực thăng vận tải hạng nặng Mi-6, một bước nhảy vọt về quy mô và khả năng so với các mẫu trực thăng trước đó.

Khi chính thức đưa vào sử dụng, Mi-6 nhanh chóng xác lập vị thế là trực thăng lớn nhất và mạnh nhất thế giới trong nhiều năm.

Mi-6 có kích thước đồ sộ, với chiều dài thân khoảng 33,2 m, đường kính cánh quạt chính gần 35 m và chiều cao xấp xỉ 9,2 m.
Trực thăng có khối lượng cất cánh tối đa lên tới khoảng 42.500 kg, con số vượt xa hầu hết các trực thăng cùng thời.
Sức mạnh này đến từ 2 động cơ tua bin trục Soloviev D-25V, mỗi động cơ có công suất khoảng 4.100 kW, cho phép Mi-6 đạt tốc độ bay tối đa khoảng 300 km/h, một thông số rất ấn tượng đối với trực thăng hạng nặng.

Khoang chở hàng của Mi-6 được thiết kế cực lớn, có chiều dài hơn 12 m, rộng khoảng 3,2 m và cao gần 3 m.
Nhờ đó, trực thăng có thể vận chuyển xe bọc thép hạng nhẹ, pháo dã chiến, tên lửa, hoặc tới 65 binh sĩ có trang bị đầy đủ.

Thậm chí còn có cả phiên bản dân sự với 5 hàng nghế cho phép chở theo số lượng lớn hành khách.
Ngoài vận chuyển bên trong, Mi-6 còn nổi tiếng với khả năng cẩu treo ngoài thân. Tải trọng cẩu ngoài tối đa của trực thăng đạt khoảng 8.000 kg, cho phép di chuyển các khí tài cồng kềnh mà đường bộ hoặc đường không thông thường khó tiếp cận.

Trong biên chế quân đội Liên Xô, Mi-6 đảm nhiệm nhiều vai trò, từ vận tải chiến lược, cứu hộ, cho tới hỗ trợ triển khai lực lượng tên lửa và phòng không.
Một số biến thể quân sự còn được trang bị vũ khí tự vệ, thường là súng máy cỡ 12,7 mm đặt ở cửa bên hoặc khoang sau, nhằm bảo vệ trực thăng khi hoạt động trong khu vực có nguy cơ bị tiến công từ mặt đất.

Tuy Mi-6 không phải trực thăng tiến công, nhưng khả năng mang theo vũ khí tự vệ và hệ thống thông tin liên lạc quân sự giúp nó hoạt động hiệu quả trong môi trường chiến sự phức tạp.
Điểm đặc biệt khiến Mi-6 được nhắc đến nhiều là khả năng vận chuyển các khí tài mà trước đó gần như không thể di chuyển bằng trực thăng.

Trong thực tế, Mi-6 từng được sử dụng để cẩu các bộ phận máy bay, tên lửa đạn đạo và radar cỡ lớn. Chính khả năng này đã tạo nên hình ảnh biểu tượng của Mi-6 như một “cần cẩu bay” trên bầu trời.

Tại Việt Nam, Mi-6 được Liên Xô viện trợ trong bối cảnh nhu cầu cơ động khí tài và khắc phục hậu quả chiến tranh rất lớn.
Với địa hình rừng núi phức tạp, hạ tầng giao thông hạn chế, khả năng vận tải đường không hạng nặng của Mi-6 tỏ ra đặc biệt hữu ích.

Trực thăng này từng được sử dụng để cẩu và di chuyển cả tiêm kích phản lực, một nhiệm vụ hiếm hoi mà rất ít loại trực thăng trên thế giới khi đó có thể thực hiện.

Việc có thể treo một máy bay tiêm kích dưới thân cho thấy rõ sức nâng vượt trội và độ ổn định đáng nể của Mi-6 trong quá trình bay.
Ngoài nhiệm vụ quân sự, Mi-6 tại Việt Nam còn tham gia các hoạt động kinh tế và dân sự, như vận chuyển máy móc hạng nặng, hỗ trợ xây dựng công trình ở khu vực khó tiếp cận.
Điều này phản ánh triết lý thiết kế đa năng của Liên Xô, nơi một loại khí tài quân sự có thể đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau tùy theo nhu cầu thực tế.
Theo thời gian, sự xuất hiện của các trực thăng thế hệ mới với hiệu suất cao hơn và chi phí vận hành thấp hơn khiến Mi-6 dần được rút khỏi biên chế.

Tuy vậy, trong lịch sử hàng không thế giới và tại Việt Nam, Mi-6 vẫn được nhớ tới như một biểu tượng của kỷ nguyên trực thăng hạng nặng, gắn liền với những nhiệm vụ tưởng chừng không thể thực hiện bằng phương tiện bay cánh quạt.










