Mô hình 'Cây bút nữ' ở Trường Sĩ quan Chính trị
Chiều muộn, khi nhiều phòng làm việc của Trường Sĩ quan Chính trị đã yên ắng, căn phòng nhỏ của Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ vẫn sáng ánh đèn. Trên bàn làm việc của Thượng úy Tạ Thị Quỳnh Anh, giảng viên Bộ môn Khoa học Xã hội, những tập tài liệu được sắp xếp ngay ngắn bên cạnh chiếc máy tính vẫn đang hiển thị bản thảo một bài báo khoa học còn dang dở.
Quỳnh Anh vừa hoàn thành giờ lên lớp buổi chiều. Thay vì trở về nghỉ ngơi, chị tiếp tục chỉnh sửa những dòng cuối cùng của bài viết trước khi gửi cho đồng đội góp ý. “Trước đây, mỗi khi viết một bài nghiên cứu hay chuẩn bị đề cương đề tài, tôi thường tự mày mò là chính. Bây giờ thì khác. Bài viết nào cũng được đồng nghiệp trong Hội Phụ nữ đọc, góp ý, chỉnh sửa và phản biện rất kỹ. Nhờ vậy, tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm và tự tin hơn rất nhiều”, Thượng úy Tạ Thị Quỳnh Anh chia sẻ.
Câu chuyện của Thượng úy Tạ Thị Quỳnh Anh cũng là hình ảnh quen thuộc ở nhiều nữ giảng viên Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ. Nhưng ít ai biết rằng, để có được môi trường học thuật sôi nổi ấy, tháng 11-2021, Hội Phụ nữ Khoa đã xây dựng và triển khai mô hình “Cây bút nữ”, tạo điều kiện để hội viên phát huy năng lực, sở trường, cùng nhau học hỏi, sáng tạo. Đến nay, mô hình trở thành điểm sáng trong hoạt động của Khoa.
Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ hiện nay giảng viên nữ chiếm gần 50% quân số. 100% hội viên có trình độ đại học và sau đại học, tuổi đời còn trẻ, trực tiếp tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học (NCKH) và các hoạt động chuyên môn của nhà trường. Nhiều đồng chí có năng khiếu viết lách, yêu thích nghiên cứu và đam mê văn chương. Đây chính là nền tảng để Hội Phụ nữ Khoa xây dựng mô hình theo hướng phát huy thế mạnh của từng hội viên, biến những năng lực riêng thành sức mạnh chung của tập thể.



Nữ giảng viên Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ, Trường Sĩ quan Chính trị nghiên cứu tài liệu, hoàn thiện bài viết.
Thượng tá Nguyễn Thị Thủy, giảng viên, Chủ tịch Hội Phụ nữ Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ nhiệm kỳ (2021-2025) nhớ lại: “Những ngày đầu triển khai mô hình, điều chúng tôi trăn trở nhất là làm sao tạo được sự gắn kết giữa các hội viên. Ai cũng bận rộn với nhiệm vụ chuyên môn nên nếu không có cách làm phù hợp thì rất khó duy trì hoạt động thường xuyên. Vì vậy, Hội tập trung xây dựng môi trường để mọi người cùng trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ và góp ý cho nhau trong quá trình nghiên cứu, viết bài, sáng tác”.
Từ những buổi trao đổi ban đầu, mô hình dần đi vào nền nếp và xác định rõ hướng hoạt động. 3 lĩnh vực được lựa chọn làm trọng tâm, gồm: NCKH; viết tin, bài tuyên truyền, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và sáng tác văn học, nghệ thuật. Mọi hoạt động đều bám sát nhiệm vụ giáo dục-đào tạo, NCKH của nhà trường cũng như những vấn đề chính trị, thời sự nổi bật trong từng thời điểm.
Trên cơ sở định hướng chung, Hội Phụ nữ Khoa phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường của từng hội viên. Những đồng chí có thế mạnh NCKH tập trung thực hiện các đề tài, sáng kiến; những đồng chí có khả năng viết lách đảm nhiệm công tác tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; còn những hội viên yêu văn chương, nghệ thuật tích cực sáng tác các tác phẩm phản ánh đời sống học tập, công tác của cán bộ, chiến sĩ.
Để phát huy hiệu quả hoạt động của mô hình, Hội còn duy trì các buổi sinh hoạt định kỳ. Những đề cương nghiên cứu, bản thảo bài viết hay tác phẩm sáng tác trước khi hoàn thiện đều được hội viên cùng đọc, góp ý và phản biện. “Ở đây, mỗi người vừa là tác giả, vừa là người đọc, người phản biện cho đồng đội của mình”, Thượng tá Nguyễn Thị Thủy nói.
Qua gần 5 năm triển khai, mô hình “Cây bút nữ” đã mang lại những kết quả toàn diện trên các lĩnh vực. Trong đó, cán bộ, hội viên phụ nữ đã chủ trì và tham gia 7 đề tài, sáng kiến cấp ngành; 17 đề tài, sáng kiến cấp cơ sở; tham gia biên soạn 10 giáo trình, 13 tài liệu dạy học; có 62 bài đăng tạp chí chuyên ngành, 182 bài đăng báo và phát thanh. Cùng với đó là nhiều giải thưởng ở các cấp trong các cuộc thi NCKH, sáng tạo trẻ, viết chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật do Quân đội và địa phương tổ chức.
Thượng tá, PGS, TS Lê Duy Thắng, Chủ nhiệm Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ khẳng định: “Thành công lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở số lượng đề tài khoa học, bài viết hay tác phẩm đã được công bố. Quan trọng hơn, mô hình đã khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu, tinh thần tự học, tự rèn và khát vọng cống hiến trong mỗi hội viên. Qua đó góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục-đào tạo, NCKH của Trường Sĩ quan Chính trị trong tình hình mới”.











