Mô hình hợp tác xã số trên thế giới: Kiến tạo hệ sinh thái hợp tác xã số cần khung pháp lý phù hợp
Hợp tác xã nền tảng số có thể giúp hộ kinh doanh, người lao động tự do và nhà sản xuất nhỏ cùng sở hữu công nghệ, kiểm soát dữ liệu và giữ lại phần lớn hơn giá trị do mình tạo ra. Nhưng những sáng kiến này khó có thể tự lớn lên nếu phải một mình xây dựng phần mềm, tìm vốn và cạnh tranh với các nền tảng đã chiếm lĩnh thị trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, điều quyết định không chỉ là một ứng dụng tốt mà là một hệ sinh thái chính sách đủ sức nuôi dưỡng mô hình từ thử nghiệm đến quy mô.
Không thể đặt mô hình mới trong chiếc khung cũ
Hợp tác xã truyền thống thường gắn với thành viên trong cùng địa bàn và tài sản hữu hình. Hợp tác xã nền tảng lại có thể tập hợp tài xế, người bán hoặc lao động tự do phân tán tại nhiều nơi; kết nạp, biểu quyết và phân phối lợi ích qua môi trường số; tài sản quan trọng nhất là phần mềm, thuật toán, thương hiệu và dữ liệu. Nếu pháp luật không nhận diện những đặc điểm ấy, các thủ tục họp, xác lập tư cách thành viên và góp vốn có thể trở thành rào cản.

Cần khung pháp lý làm nền tảng cho hệ sinh thái hợp tác xã số. Ảnh được tạo bằng AI
Nghiên cứu về khung pháp lý cho hợp tác xã nền tảng được công bố trong khuôn khổ của Ban Kinh tế và Xã hội LHQ đề xuất lựa chọn hướng tiếp cận kiến tạo: mở pháp luật hợp tác xã cho những hoạt động kinh tế mới, đồng thời rà soát mối liên hệ với pháp luật lao động, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ và bảo vệ dữ liệu.
Khung pháp lý cần công nhận việc kết nạp, đại hội và biểu quyết trực tuyến; làm rõ quyền sở hữu phần mềm, thuật toán, dữ liệu và cơ chế đại diện khi có nhiều nhóm thành viên. Một ứng dụng tự nhận “vì cộng đồng” chưa trở thành hợp tác xã nếu người lao động không có quyền biểu quyết, không kiểm soát tài sản số và không được chia sẻ lợi ích.
Nhà nước xây “đường ray”, hợp tác xã vận hành dịch vụ
Bài học quan trọng từ Ấn Độ không chỉ nằm ở eSamudaay hay một ứng dụng riêng lẻ, mà ở hệ sinh thái hạ tầng số công cộng gồm định danh, thanh toán tức thời, chia sẻ dữ liệu và mạng thương mại mở. Được triển khai từ tháng 4/2022, Mạng mở cho thương mại số của Ấn Độ (Open Network for Digital Commerce - ONDC) hướng tới tạo một mạng mở cho hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên môi trường số. Người mua và người bán có thể sử dụng những ứng dụng khác nhau nhưng vẫn tìm thấy và giao dịch với nhau.
Cách tiếp cận này khác với một sàn thương mại điện tử quốc gia tập trung. Nhà nước thiết lập giao thức, tiêu chuẩn và “đường ray” kết nối; doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng phát triển dịch vụ trên đó. Hạ tầng phải mở, liên thông và không đặt một chủ thể vào vị trí độc quyền mới; người bán được đổi nhà cung cấp và dữ liệu chỉ được chia sẻ theo sự đồng ý.
Việt Nam có thể xây dựng bộ công cụ “hợp tác xã số trong một hộp”, tích hợp quản lý thành viên, gian hàng, thanh toán, hóa đơn điện tử, truy xuất nguồn gốc và logistics. Thay vì mỗi hợp tác xã làm một ứng dụng, Nhà nước đầu tư lõi công nghệ chung để từng tổ chức tùy chỉnh theo ngành nghề.
Cần nguồn vốn “kiên nhẫn”
Nền tảng số cần chi phí lớn trước khi đạt đủ người mua và người bán để tự duy trì. Doanh nghiệp công nghệ thông thường có thể huy động đầu tư mạo hiểm bằng cách hứa hẹn tăng trưởng nhanh, mở rộng thị phần và bán cổ phần. Hợp tác xã khó đi theo con đường này vì trao quyền chi phối cho nhà đầu tư có thể làm suy yếu quyền kiểm soát dân chủ của thành viên.
Tổ chức OECD cho rằng cơ quan công quyền có thể hỗ trợ hợp tác xã nền tảng tiếp cận vốn khởi nghiệp thông qua quỹ công, tài trợ, các khoản vay ưu đãi và bảo lãnh tín dụng. Điều quan trọng là thiết kế công cụ tài chính phù hợp với chu kỳ phát triển dài và cơ cấu sở hữu tập thể, thay vì áp dụng nguyên xi tiêu chí dành cho start-up đầu tư mạo hiểm.
Gói chính sách có thể gồm kinh phí thử nghiệm; hỗ trợ thuê chuyên gia công nghệ, pháp lý, an ninh mạng; bảo lãnh tín dụng và quỹ đầu tư phần mềm dùng chung. Vốn công nên gắn với số thành viên sử dụng thực tế, doanh thu lặp lại, mức giảm phí trung gian và khả năng tự trang trải. Bài học Loconomics ở Mỹ cho thấy ý tưởng tiến bộ và đóng góp tình nguyện không thể thay thế đội ngũ chuyên nghiệp cùng nguồn lực phát triển thị trường.
Mua sắm công tạo thị trường ban đầu
Chính quyền địa phương là khách hàng lớn của các dịch vụ vận tải, giao hàng, suất ăn, chăm sóc tại nhà hay tái chế chất thải. Mua sắm công có trách nhiệm xã hội có thể tạo những đơn hàng đầu tiên, giúp nền tảng đạt quy mô tối thiểu và chứng minh năng lực.
Kế hoạch hành động về kinh tế xã hội của EU cũng coi mua sắm công là con đường giúp các tổ chức kinh tế xã hội tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, không nên ưu tiên vô điều kiện. Hồ sơ thầu cần đánh giá chất lượng việc làm, tỷ lệ giá trị giữ lại tại địa phương, tính minh bạch thuật toán, khả năng liên thông dữ liệu và tác động môi trường. Hợp tác xã phải chứng minh dịch vụ tốt, giá hợp lý và giá trị xã hội có thể đo lường.
Bắt đầu từ nhu cầu thật, không bắt đầu từ ứng dụng
Đối với Việt Nam, hợp tác xã nền tảng nên được thí điểm ở những lĩnh vực có đông chủ thể nhỏ, nhu cầu phối hợp rõ ràng và chi phí trung gian cao. Đó có thể là vận tải và giao hàng địa phương; tiêu thụ nông sản; du lịch cộng đồng; dịch vụ sửa chữa, chăm sóc; hoặc nền tảng kế toán, hóa đơn và quản trị dùng chung cho hộ kinh doanh.
Trước khi viết phần mềm, cần xác định thành viên đang gặp khó khăn gì, họ sẵn sàng cùng trả tiền cho dịch vụ nào và quyết định nào cần được quản trị tập thể. Một nền tảng chỉ tồn tại khi giải quyết nhu cầu kinh tế cụ thể, không phải vì được gắn nhãn “chuyển đổi số”.
Hợp tác xã nền tảng số không nhằm thay thế mọi doanh nghiệp công nghệ hay dựng thêm những “ốc đảo” khép kín. Giá trị của mô hình nằm ở việc tạo thêm một lựa chọn: người sản xuất nhỏ có thể cùng mua công nghệ, cùng làm chủ dữ liệu và cùng định đoạt luật chơi.
Nhà nước không cần vận hành thay hợp tác xã, nhưng phải tạo môi trường để mô hình lớn lên: pháp luật mở không gian, hạ tầng số giảm chi phí, vốn dài hạn nuôi giai đoạn đầu, mua sắm công mở thị trường và quản trị dữ liệu bảo vệ thành viên.
