Mô hình vận hành chiến lược để phát triển bền vững hạ tầng Internet tương lai
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, mạng 5G, 6G và các dịch vụ số đang đặt ra yêu cầu mới đối với hạ tầng Internet. Internet không chỉ cần mở rộng về quy mô mà còn phải đổi mới về kiến trúc và phương thức vận hành.

Đầu tư phát triển hạ tầng chuyển đổi số, ứng dụng mạnh mẽ, tiên phong các công nghệ số, dữ liệu số trong tất cả các lĩnh vực. Ảnh: Minh Quyết/TTXVN
Năm 2026 đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Internet Việt Nam, khi Việt Nam bước sang chặng đường then chốt trong quá trình chuyển đổi Internet sang IPv6 và tiến tới triển khai IPv6-Only. Đây là cột mốc quan trọng – thời điểm "bản lề" kết thúc giai đoạn chuyển đổi 2021–2025 và mở ra kỷ nguyên tăng tốc IPv6-Only giai đoạn 2026–2030.
IPv6-Only là xu thế tất yếu
Trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật và các dịch vụ số tiếp tục phát triển mạnh mẽ, yêu cầu đối với hạ tầng Internet không chỉ là khả năng kết nối mà còn phải bảo đảm khả năng mở rộng, tính bền vững, an toàn và sẵn sàng cho tương lai. Gắn với chiến lược phát triển hạ tầng số, công nghệ số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu kết nối khổng lồ, độ trễ thấp và độ tin cậy cao của các ứng dụng Internet công nghiệp, hạ tầng số Việt Nam phải có dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng, phổ cập, bền vững, xanh, thông minh, mở và an toàn.
Trong hành trình đó, chỉ có IPv6 mới giải quyết được bài toán về kết nối này. IPv6 đã khẳng định vai trò là nền tảng cốt lõi của Internet thế hệ mới. Sau hơn 10 năm triển khai, IPv6 trở thành xu hướng chủ đạo trên toàn cầu với khoảng 50% lưu lượng Internet thế giới hiện nay sử dụng. IPv6 Việt Nam khai trương năm 2013 với sự tham gia của 6 nhà cung cấp dịch vụ Internet. Hơn 10 năm thúc đẩy triển khai IPv6, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hạ tầng viễn thông, Internet, các nền tảng số và dịch vụ trực tuyến lớn đã sẵn sàng cho IPv6 và tiếp tục mở rộng triển khai trên thực tế.
Báo cáo của Trung tâm Internet Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho thấy, từ năm 2021 đến nay, nhịp tăng trưởng về tỷ lệ sử dụng IPv6 luôn được giữ và Việt Nam thường xuyên có tên trong nhóm các quốc gia tiêu biểu trong chuyển đổi sang IPv6. Đến tháng 7/2026, tỷ lệ sử dụng IPv6 của Việt Nam khoảng 70%, đứng thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN, cao gấp 1,6 lần mức trung bình toàn cầu, với khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng hoạt động trên nền IPv6. Người sử dụng Internet ở Việt Nam đang truy cập Internet sử dụng IPv6 thông qua mạng di động băng rộng 3/4/5G, cáp quang Internet tại nhà, công sở.
Giai đoạn 2021-2025, IPv6 đã được triển khai rộng rãi trong các cơ quan nhà nước. 86% bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành chuyển đổi IPv6 cho cổng thông tin điện tử, cổng dịch vụ công và các hệ thống thông tin kết nối Internet; 73% đã quy hoạch mạng sử dụng địa chỉ IP và số hiệu mạng độc lập.
Những kết quả trên tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới. Nếu giai đoạn 2021-2025 là quá trình chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6 thì giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ tăng tốc triển khai IPv6-Only.
Chuẩn bị hạ tầng cho tương lai
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long, tương lai số của mỗi quốc gia ngày càng gắn chặt với tương lai của Internet. Sự phát triển của AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các dịch vụ số quy mô lớn đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với hạ tầng Internet. Trong bối cảnh đó, IPv6-Only được xem là bước phát triển tiếp theo của Internet. Nếu nhìn từ góc độ kỹ thuật, đây là quá trình hoàn thiện kiến trúc mạng Internet thế hệ mới. Còn dưới góc độ phát triển quốc gia, IPv6-Only chính là sự chuẩn bị hạ tầng cho tương lai.
Chuyển đổi sang IPv6-Only giúp đơn giản hóa kiến trúc mạng, giảm sự phụ thuộc vào các giải pháp trung gian, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng cường an toàn thông tin. Đồng thời, mô hình này cũng giúp giảm chi phí quản trị, mở rộng không gian phát triển cho các dịch vụ dữ liệu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Ngày 27/10/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 3369/QĐ-BKHCN phê duyệt Chương trình thúc đẩy triển khai IPv6-only giai đoạn 2026–2030. Chương trình định hướng chuyển dịch đồng bộ hạ tầng Internet quốc gia sang IPv6-Only, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập với hệ sinh thái Internet toàn cầu.
Quyết định số 3369/QĐ-BKHCN xác định chuyển đổi IPv6-Only là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2026-2030, tập trung vào các mạng lõi, mạng di động, mạng Wi-Fi, hệ thống của cơ quan nhà nước, mạng băng rộng cố định, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và dịch vụ nội dung số. Trong đó, giai đoạn 2025-2027 tập trung triển khai các dự án thí điểm IPv6-Only; giai đoạn 2028 đẩy mạnh tăng tốc chuyển đổi; đến năm 2030 hướng tới môi trường Internet vận hành hoàn toàn trên IPv6.
Tại Hội nghị VNNIC Internet Conference 2026 diễn ra tháng 6/2026 do Trung tâm Internet Việt Nam đăng cai tổ chức, ông Tony Smith, Phó Tổng giám đốc Trung tâm Thông tin mạng châu Á - Thái Bình Dương (APNIC) đánh giá, đây là mục tiêu táo bạo nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu cho thế giới nếu vượt qua được những thách thức còn lại.

Ngày 19/6/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội nghị VNNIC Internet Conference 2026, với chủ đề “Triển khai IPv6-Only - Động lực phát triển hạ tầng số quốc gia”. Diễn đàn có sự tham gia của hơn 400 lãnh đạo, CEO và các chuyên gia hàng đầu về Internet trong nước và quốc tế. Ảnh: Thu Hoài/TTXVN
Ông Tony Smith nhận định, giai đoạn 2027-2030 chính là chặng đường gian nan nhất. Những tổ chức, doanh nghiệp chưa triển khai IPv6 thường là các đơn vị nhỏ và vừa hoặc các mạng doanh nghiệp, nơi việc chuyển đổi phức tạp và tốn nhiều nguồn lực hơn. Hiện Việt Nam có khoảng 238 hệ thống mạng độc lập (ASN) đang hoạt động. Trong số này, chỉ có 9 mạng đạt tỉ lệ hỗ trợ IPv6 trên 50%, 10 mạng đạt từ 10-49%, 24 mạng ở mức 1-9%, còn tới 195 mạng có tỉ lệ IPv6 dưới 1%. Do vậy hỗ trợ nhóm doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ Internet tham gia quá trình chuyển đổi sẽ quyết định thành công của chiến lược IPv6-Only quốc gia.
Các doanh nghiệp viễn thông cũng nhìn nhận những thách thức thực tế. Tham dự Hội nghị VNNIC Internet Conference 2026, đại diện Tập đoàn VNPT và Tập đoàn Viettel đều khẳng định IPv6-Only sẽ là định hướng trọng tâm trong những năm tới. Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết để đáp ứng nhu cầu kết nối ngày càng lớn từ AI, điện toán đám mây, IoT, dữ liệu lớn và mạng 5G độc lập (5G SA).
Ông Phạm Tiến Huy, Ban Công nghệ Tập đoàn VNPT cho biết, giai đoạn 2026-2030, VNPT xác định chuyển trọng tâm từ “sẵn sàng IPv6” sang xây dựng hạ tầng số IPv6-Only. Mục tiêu trước mắt là đạt tỷ lệ 95% thuê bao hoạt động trên IPv6 ngay trong năm 2026, đồng thời triển khai các mô hình thử nghiệm IPv6-Only trên mạng FTTH, mạng di động và các hệ thống nội bộ.
VNPT tiếp tục tối ưu mạng lưới, rà soát các khu vực còn tỷ lệ IPv6 thấp, nâng cấp thiết bị đầu cuối và từng bước mở rộng IPv6-Only trên các nền tảng. Bên cạnh đó, VNPT đặt mục tiêu đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương trong quá trình chuyển đổi, từ việc tư vấn lộ trình, quy hoạch địa chỉ IPv6 đến hỗ trợ chuyển đổi cổng dịch vụ công, hệ thống điều hành điện tử, cơ sở dữ liệu và các nền tảng dùng chung.
Theo đại diện Viettel, IPv6-Only phức tạp hơn nhiều so với việc triển khai IPv6. Nếu IPv6 là bước mở rộng hạ tầng thì IPv6-Only đòi hỏi thay đổi cả hệ sinh thái dịch vụ và thiết bị. Vì vậy, Viettel lựa chọn lộ trình chuyển đổi từng bước. Trong năm 2026, doanh nghiệp sẽ hoàn thành thử nghiệm IPv6-Only cho dịch vụ băng rộng cố định tại một địa phương để đánh giá các vấn đề phát sinh, mức độ sẵn sàng của hạ tầng và tác động tới trải nghiệm khách hàng. Viettel cũng nghiên cứu triển khai IPv6-Only cho các dịch vụ Internet vạn vật trên mạng di động.
IPv6-Only không chỉ là một cuộc chuyển đổi công nghệ mà còn là mô hình vận hành chiến lược cho sự phát triển bền vững của hạ tầng Internet trong tương lai. Các nhà mạng và cả nhà sản xuất thiết bị, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị cung cấp nền tảng số, trung tâm dữ liệu và cơ quan nhà nước đều tham gia vào quá trình chuyển đổi. Do đó, mọi bước triển khai đều cần được đánh giá kỹ lưỡng nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng.













